Giang Sơn Bất Hối


Bộ Thiên Hành bế Phá Nguyệt, ban đầu là cưỡi ngựa, chạy khoảng hai canh giờ. Sau đó tới một con đường núi bị băng tuyết bao phủ, ngựa không qua được nữa. Chàng bèn bỏ ngựa, bế nàng chạy một mạch. Đã hai ngày hai đêm chàng không ngủ, cho dù nội lực có thâm hậu tới đâu thì bước chân cũng loạng choạng. Phá Nguyệt xót xa cho chàng, vả lại nàng cũng chỉ bị một vài vết thương nhẹ, bèn bảo chàng bỏ mình xuống, nhưng Bộ Thiên Hành không nghe, quát to:


– Câm miệng. – Chàng ôm nàng không rời tay.


Chạy cho tới khi trời sáng, liền thấy dưới chân núi có một trấn nhỏ. Cả trấn xám xịt mênh mang, vừa nhìn là biết ngọn lửa chiến tranh tàn độc lướt qua, chẳng còn bóng người. Lúc này Bộ Thiên Hành mới thở phào nhẹ nhõm, tìm một gian nhà trông có vẻ còn nguyên vẹn và sạch sẽ, bế Phá Nguyệt bước vào.



Trong nhà tối om, khi Bộ Thiên Hành đặt Phá Nguyệt xuống, suýt thì trượt ngã. Chàng cố gượng lại, cởi áo choàng ra trải xuống chiếc giường bẩn thỉu, rồi đỡ Phá Nguyệt ngồi xuống.


Sắc mặt Phá Nguyệt không tốt lắm, chân tay cũng lạnh ngắt. Bộ Thiên Hành lục tung trong nhà, trong vại có nước, trên bếp còn một ít củi, nhưng không có gạo, cũng chẳng có chăn bông.


Chàng bón cho Phá Nguyệt một chút nước, cởi áo bông của mình ra quấn cho nàng, bảo nàng nằm xuống. Còn mình chỉ mặc một cái áo màu đen, bắt đầu nhóm lửa. Phá Nguyệt thấy sắc mặt chàng nhợt nhạt thì lo lắng:


– Chàng không lạnh sao?


Bộ Thiên Hành không ngẩng đầu lên:


– Công lực của ta thâm hậu hơn nàng, sao lại sợ lạnh? – Phá Nguyệt gật đầu, nằm xuống một lát, mơ màng ngủ thiếp đi. Lát sau, nàng mở mắt ra, quay đầu thấy Bộ Thiên Hành đang khoanh tay, nhảy tưng tưng tại chỗ.


Hóa ra là củi quá ướt nên không cháy được. Thể lực của chàng bị tiêu hao, vận khí cũng khó khăn, chàng rất lạnh, chẳng qua là giấu nàng. Phá Nguyệt thấy chàng dậm chân, run lập cập, mặt tái xanh, lặng lẽ chạy vòng quanh căn nhà nhỏ. Phá Nguyệt vừa xót xa vừa buồn cười, mắng yêu:


– Đồ ngốc.


Lúc này Bộ Thiên Hành mới phát hiện ra nàng đã tỉnh, cười cười, cúi đầu nhìn vào bếp lò, mừng rỡ:


– Lửa bén rồi.


Có lửa rồi, căn phòng dần trở nên ấm hơn. Chàng lại đun ít nước nóng, ngồi uống với Phá Nguyệt. Lúc này mới lên giường, hai người ôm nhau thật chặt.


Phá Nguyệt bỗng cảm thấy lồng ngực ấm áp, lấy ra xem, hóa ra là “hộp cơm giữ nhiệt hai tầng” mà nàng làm cho chàng, bảo chàng cho thêm ít than vào.


– Có qua có lại. – Chàng cười tươi nói.


Phá Nguyệt kéo tay chàng đặt lên vùng bụng lạnh giá của mình:


– Chàng nói xem… con có làm sao không?


– Con chắc chắn sẽ bình an. – Bộ Thiên Hành ôm chặt nàng. Chàng kể một lượt chuyện mình bị Triệu Sơ Túc ám toán, hai người lặng thinh giây lát, Phá Nguyệt hỏi:


– Tối qua chàng nói, không làm tướng quân, thần tử nữa… có phải là nghiêm túc không?


Bộ Thiên Hành lạnh nhạt nói:


– Thực ra hôm đó sau khi biết được thân thế, ta đã có ý rút lui. Những chuyện khác không nói, chỉ nói việc ngày nào đó ta thắng lợi về triều, khi diện kiến Hoàng đế, ta đâu còn đường sống? Chỉ là Bắc phạt liên quan tới sự nghiệp nhất thống thiên hạ của Đại Tư, ta vốn định đánh xong trận này rồi sẽ đi, coi như tận trung báo quốc, không còn gì nuối tiếc. Giờ đã tới nước này, ta hà tất phải hiếu trung với Mộ Dung thị, bán mạng cho Triệu Sơ Túc?


Phá Nguyệt vuốt ve mặt chàng:


– A Bộ, thiếp thương chàng lắm.


A Bộ nắm lấy bàn tay nàng, hôn nhẹ:


– Không sao. Chẳng phải nàng luôn muốn chúng ta quy ẩn điền viên sao? Sau này núi sông vạn dặm, ta sẽ cùng nàng sống cuộc đời vui vẻ, còn thú vị hơn cả hành quân đánh trận.


Chàng nói nghe nhẹ nhàng, sau đó thì ngủ thiếp đi. Tâm trạng Phá Nguyệt vô cùng phức tạp, một lúc lâu sau vẫn không ngủ được. Đương nhiên nàng hy vọng Bộ Thiên Hành cùng mình sống cả đời yên ổn. Nhưng suy đi tính lại, đại thù của chàng không thể báo, lại còn bị truy sát như một tặc tử phản quốc, nàng biết, chàng đã thực sự nguội lòng rồi.


Một tháng sau, đã vào đầu xuân. Hai người Bộ Thiên Hành vượt sa mạc, tới được vùng biên quan Đại Tư, thành Thanh Luân. Phá Nguyệt vốn đang rầu rĩ, mình đã mang thai hai tháng, khó có thể vác cơ thể nặng nề ấy vượt lên thành lầu. Bộ Thiên Hành lại không có vẻ gì là hoảng hốt, móc lệnh bài ra, kéo Phá Nguyệt đi vào cổng thành.


Phá Nguyệt giật mình:


– Bị bắt thì làm thế nào?


Bộ Thiên Hành mỉm cười:


– Nương tử hồ đồ quá. Nơi này vốn là địa bàn của Tiểu Dung, chúng ta sao gặp nguy hiểm được? Hơn nữa tuy Hoàng đế sai người tróc nã ta thì cũng không thể làm quá lộ liễu được.


Phá Nguyệt nghe thấy chàng vô tình nhắc tới Tiểu Dung, giả bộ không phát hiện ra, vỗ tay nói:


– Đúng! Chàng là tướng quân tam phẩm, nếu lúc này chiêu cáo thiên hạ chàng là tặc tử phản quốc, tất sẽ làm lung lạc lòng quân. Huống hồ thân thế của chàng liên quan tới bí mật của hoàng thất năm xưa, Hoàng đế chắc chắn phải úy kỵ. Thế nên ông ta chỉ có thể âm thầm tróc nã chàng.


Hai người tới cổng thành, quả nhiên không những không bị tra xét mà binh sĩ còn cung kính ân cần. Bộ Thiên Hành bèn gọi quân quan thủ thành tới, lấy ra ít ngân lượng, tìm tới một danh y trong thành bắt mạch cho Phá Nguyệt. Cũng may hai mẹ con bình an, hai người bèn yên tâm đi về phía Nam.


So với chiến trường khói lửa mịt mù, Đại Tư yên tĩnh và thư thái hơn nhiều. Lại là mùa xuân hoa nở, đâu đâu cũng là cảnh đẹp như tranh. Hai người dọc đường đi rất chậm, liên tục nghe được những tin từ tiền tuyến, có thắng có bại; cũng thường xuyên gặp các đội ngũ tân binh hào khí muôn trượng tiến về phía Bắc. Có lúc đi tới một thôn, hầu như không có nam đinh, tất cả đã bị gọi nhập ngũ hết rồi. Nhưng vì Đại Tư thượng võ, đối với trận Bắc phạt này, mọi người không một lời oán than, ngược lại đi tới đâu cũng thấy bầu không khí quang vinh và vui vẻ. Duy chỉ có hai người khi nhìn thấy các cô nhi quả phụ trong thôn là thở dài cảm thán.


Hai tháng sau, Phá Nguyệt đã mang thai sáu tháng, hai người tới Thanh Vu Phong mà năm xưa Yến Tích Mạc ẩn thân, mở rộng căn nhà tranh, sống tại nơi đó. Nơi này rất hiếm dấu vết con người, không sợ có truy binh của triều đình.


Phá Nguyệt đã gửi tin tới Thanh Tâm giáo và Hình đường, bởi hai bang phái đều phái người âm thầm bảo vệ nàng, nàng sợ họ tìm kiếm bừa bãi ngoài tiền tuyến. Cô cô quản sự của Thanh Tâm giáo nhận được tin, nói vài ngày nữa sẽ đưa người tới Thanh Vu Phong bái phỏng.


Hai người không mấy quan tâm. Cho tới một buổi sáng mười ngày sau, trên sườn núi vang lên tiếng bước chân rầm rập.


Khi đó Bộ Thiên Hành đã sa sầm mặt, rút Minh Hồng ra, dặn Phá Nguyệt ở lại trong nhà. Thanh Vu Phong thế núi hiểm yếu, quan binh lên núi cũng ở vào thế dễ thủ khó công. Chàng nóng lòng bảo vệ thê nhi, đừng nói là nghe thấy tiếng bước chân của hàng trăm người, cho dù là hàng nghìn người thì chàng cũng sẽ giết hết.


Giữa trưa, chàng ẩn mình trên một ngọn cây lớn chờ đợi, thấy một đoàn người men theo đường núi mà bò lên. Chàng giật mình, đi đầu là mười mấy nữ tử trông rất quen mặt, đi sau là các cao thủ hôm đó đã theo chàng đi phục kích vương thất Quân Hòa. Có người là hiệp khách giang hồ gia nhập dưới trướng của chàng, có người là lão binh, đều là huynh đệ tâm phúc.


Tối đó chàng cứu được Phá Nguyệt, bèn ra lệnh cho người khác thông báo cho mọi người giải tán để không bị Triệu Sơ Túc giá hại. Không ngờ họ lại theo chàng trở về Đại Tư.


Chàng bay người xuống, dừng trước mặt chúng nhân:


– Khoan đã.


Mọi người thấy chàng đột nhiên xuất hiện thì đều mừng rỡ, nhất tề quỳ xuống:


– Bộ tướng quân! – Động tĩnh này truyền tới tận cuối của đội ngũ, không lâu sau, từ trước mặt Bộ Thiên Hành cho tới tận lưng chừng núi, người nào cũng quỳ một chân xuống đất, thanh thế rất lớn.


Bộ Thiên Hành vội vàng đỡ mấy người phía trên lên:


– Mau đứng lên! Sao mọi người lại tới đây?


Chúng nhân đua nhau mỗi người một câu. Hóa ra họ cũng sợ bị liên lụy nên trốn về Đại Tư. Trong đó có người tâm tư nhanh nhạy, bèn liên lạc với Thanh Tâm giáo, biết được hành tung của hai người Bộ Thiên Hành. Song phương hợp kế, tìm lên núi, chuyến đi này có tới năm trăm người.


Có người nói to:


– Bộ tướng quân! Tên cẩu hoàng đế đó nghe lời của gian thần, nói ngài thông địch phản quốc, tôi quyết không tin đâu!


Bộ Thiên Hành nghiêm nghị gật đầu:


– Nếu Bộ Thiên Hành ta phản bội Đại Tư thì ta sẽ chết không có chỗ chôn.


Chúng nhân đồng thanh nói phải, sau đó hỏi:


– Bộ đại hiệp, sau này chúng ta làm thế nào?


– Giáo chủ có khỏe không? – Cô cô của Thanh Tâm giáo mãi mới chen được vào một câu. Bộ Thiên Hành nhướng mày, cười ha hả nói:


– Các người theo ta.


Phần lớn chúng nhân đều ở lại sườn núi, mấy người có kinh nghiệm và võ công tương đối cao theo Bộ Thiên Hành vào căn nhà tranh. Phá Nguyệt thấy chúng nhân tới thì vô cùng mừng rỡ. Mọi người ngồi với nhau nói chuyện một hồi, khi nghe nói có bao nhiêu người tới tìm hai người, Phá Nguyệt dở khóc dở cười, nghĩ bụng xong rồi, vừa mới tìm được nơi trú chân, nay lại bị họ gây ra động tĩnh lớn như thế, e rằng không ở được nữa rồi.


Phá Nguyệt nói vui với đám hán tử:


– Hay là… các người gia nhập vào Thanh Tâm giáo của ta đi.


Bộ Thiên Hành lập tức cười nói:


– Chủ ý này của phu nhân rất hay, các người đều gia nhập vào Thanh Tâm giáo đi.


Cô cô Thanh Tâm giáo vui vẻ nói:


– Hay lắm! Hay lắm.


Đám hán tử đực mặt như phỗng, sống chết không chịu. Lúc này Bộ Thiên Hành mới chân thành nói:


– Mọi người đều gửi gắm hy vọng vào ta, ta rất cảm kích. Nhưng hai người chúng ta nay bị triều đình truy sát, không muốn liên lụy đến chư vị. Huống hồ nay ta chỉ muốn chăm sóc tốt cho Nguyệt Nhi, không muốn quan tâm tới chuyện giang hồ nữa. Ta không còn là tướng quân, làm sao có thể dẫn dắt mọi người?


Chúng nhân đưa mắt nhìn nhau, đều không cam tâm. Ngược lại, có một đệ tử Hình đường trầm ngâm giây lát, rồi đưa ra đề nghị:


– Sao Bộ đại hiệp không tự thành lập môn phái, rồi thu nhận mọi người làm môn hạ?


Cô cô Thanh Tâm giáo phụ họa thêm:


– Ta thấy chủ ý này của Hình đường huynh đệ rất hay. Nếu sợ liên lụy tới mọi người thì nói với bên ngoài là Đường chủ Hình đường chấp chưởng. Cô gia xử lý sự vụ của môn phái, được không?


Chúng nhân luôn miệng khen hay. Bộ Thiên Hành thấy hơi ngứa ngáy trong lòng, nhưng trước nay chàng chưa từng làm chưởng môn trên giang hồ, thực sự không biết nên vẫn lắc đầu.


Phá Nguyệt lại có dự định khác, chưa chờ chàng từ chối, đã gật đầu nói:


– Phu quân, thiếp nghĩ ý này rất hay. Cứ quyết định vậy đi.


Bộ Thiên Hành kinh ngạc. Chàng không biết rằng, Phá Nguyệt đang nghĩ, chàng là một người tính tình tự do, phóng khoáng, bắt chàng ngày nào cũng ở bên mình, đừng nói chàng thấy nhàm chán, ngay cả nàng cũng không chịu nổi. Những người này chẳng có nơi nào để đi, có họ bầu bạn, xưng huynh gọi đệ cũng đỡ buồn.


Không chỉ như vậy, Phá Nguyệt còn nói:


– Cô cô, thứ cho ta nói thẳng, Thanh Tâm giáo của chúng ta có tiếng tăm không tốt trên giang hồ. Nay ta làm giáo chủ, đương nhiên sẽ không cho phép những việc bại hoại ấy xảy ra nữa. Ta thấy chi bằng Thanh Tâm giáo hợp nhất với giáo phái của phu quân ta. Chúng ta thành lập một môn phái mới, dùng một diện mạo mới để quay lại võ lâm, như thế chẳng phải rất hay sao?


Cô cô suy nghĩ giây lát, gật đầu cười:


– Như thế rất hay.


Bộ Thiên Hành thấy việc thành lập môn phái mới đã như ván đóng thuyền, không chối từ nữa, cười to:


– Được rồi. Vậy môn phái mới tên là gì? – Chúng nhân thấy chàng đồng ý thì đều mừng rỡ, đua nhau đề xuất. Có điều, nếu Phá Nguyệt có thể biết trước mọi người (bao gồm cả Bộ Thiên Hành) đều cảm thấy cái tên “Thần Long giáo” hay thì nàng sẽ không bao giờ nhắc tới chuyện họ đã tu luyện Ngọc Liên Thần Long công.


Nhiều ngày sau, một môn phái mới có tên gọi “Thần Long giáo” ra đời một cách thần bí, thanh thế to lớn trước nay chưa từng thấy, đột ngột xuất hiện trên lãnh thổ Đại Tư. Môn quy của họ rất nghiêm cẩn, võ nghệ cao cường, trừ gian diệt ác, hơn nữa còn có mối thâm giao với nhiều môn phái trên giang hồ, nhanh chóng trở thành đệ nhất môn phái ở Đại Tư.


Có tiền bối võ lâm biết việc này thì nói với đám hậu bối bằng vẻ cao thâm khó lường rằng, chưởng môn của Thần Long giáo thực ra không phải là Dương Tu Khổ, mà là hai đại anh hùng truyền kỳ; phần số những người trẻ tuổi đều tìm đến chân núi Phọc Dục với một tấm lòng chính nghĩa và nhiệt huyết với võ học, xin được làm đệ tử của Thần Long giáo.


Bốn tháng sau.


Bầu trời trong xanh ngắt, không một gợn gió. Những chiếc lá xanh um phát ra ánh sáng bàng bạc chói mắt dưới ánh mặt trời, khí nóng vô hình trải khắp sơn cốc.


Bộ Thiên Hành mặc một bộ y phục màu đen, chắp tay đứng trên một tảng đá lớn. Ánh nắng khiến chàng như tỏa ánh hào quang, mồ hôi thấm ướt cả y phục, khiến chàng như bức tượng ướt sũng.


Có khoảng hơn ba trăm người, có nam có nữ, cùng mặc y phục đen đồng màu, đứng nghiêm chỉnh trước mặt chàng thành một phương trận. Biểu cảm của người nào cũng vô cùng nghiêm túc, và cũng rất nhẫn nại. Mồ hôi rịn ra từ chân tóc, muỗi cắn trên mu bàn tay… tất cả những điều này đều không thể khiến họ cử động, không phải không muốn, mà là không dám.


Cuối cùng, Bộ Thiên Hành nhướng mày, nói to:


– Nghỉ ngơi một tuần hương. Còn một canh giờ nữa.


– Hả? – Vô số những âm thanh kinh ngạc có, rầu rĩ có. Chúng nhân ngã bệt ra đất như những vũng bùn, quạt gió, đuổi muỗi, uống nước. Có người còn đập đầu xuống đất, hy vọng mình tỉnh táo hơn một chút.


– Đại… đại sư huynh! – Một nữ tử áo trắng còn trẻ to gan lớn mật hỏi bằng giọng nũng nịu. – Chúng ta là môn phái võ lâm chứ có phải hành quân đánh trận đâu. Vì sao lại phải đứng nghiêm? – Những kẻ khác thấy có người chịu đứng lên thì lập tức phụ họa.


Gọi Bộ Thiên Hành là đại sư huynh vì Dương Tu Khổ là chưởng môn trên danh nghĩa. Đệ tử mới đa phần đều chỉ biết có đại sư huynh và đại sư tỷ chứ không biết thân phận thực sự của họ.


Bộ Thiên Hành cười nói:


– Sức khỏe là gốc rễ để luyện võ. Các người không đứng nghiêm nổi trong ba canh giờ? Thế thì làm sao có thể luyện được võ nghệ tuyệt thế? Nhớ năm xưa, ta và đại sư tỷ của các ngươi mỗi ngày phải đứng đủ năm canh giờ! Đừng hỏi nhiều nữa, trong mỗi môn phái chỉ có những người chăm chỉ nhất mới có thể lĩnh hội những thứ cao thâm hơn!


Những gì chàng nói thật thâm sâu, chúng đệ tử vừa kinh ngạc, vừa nghi hoặc, nhưng đa phần vẫn tỏ ra tin tưởng. Cũng có người phản đối:


– Nhưng mà sư huynh, đệ chỉ muốn làm đại hiệp võ lâm, không muốn làm tướng quân. Đứng nghiêm đã đành, vì sao còn phải luyện tập bày trận và biến trận của nhà binh?


Bộ Thiên Hành nghe hắn hỏi mà đỏ bừng mặt.


Mấy tháng nay, chàng đã chọn lọc tâm pháp và mấy chiêu thức cơ bản trong Ngọc Liên Thần Long công để đưa vào làm các chiêu thức nhập môn, dạy cho các nam nữ đệ tử, võ công của họ đều tiến bộ rất nhanh. Chàng lại căn cứ vào đặc điểm của từng người mà truyền thụ các môn võ công khác mà mình từng luyện tập. Chúng nhân thấy chàng không che giấu bí kíp nên đều sùng kính, chúng đệ tử tới gia nhập môn phái của chàng ngày càng nhiều.


Thấy các đệ tử đã hơn một nghìn người, trước đội ngũ hàng nghìn người này, chàng thấy ngứa ngáy tay chân nên bắt đầu bài binh bố trận. Lúc này thấy có người chất vấn, chàng không giải thích nữa, chỉ cười lớn:


– Lúc trước là các người ép ta làm đại sư huynh, nay phải làm theo sở thích của ta. Được rồi, tới giờ rồi, đứng thẳng lên cho ta. Ai mà động đậy thì coi chừng cái roi của ta.


Chúng nhân luôn miệng kêu khổ. Vốn dĩ ngoài các lão binh đã theo Bộ Thiên Hành thì những nhân sĩ giang hồ khác đa phần đều cảm thấy tính tình chàng thẳng thắn, dễ gần, đâu biết khi luyện binh, chàng lại máu lạnh vô tình như vậy. Suốt mấy tháng qua, cho dù nhân sĩ võ lâm hay nữ đệ tử của Thanh Tâm giáo, hầu như đều bị hành hạ tới mức lột mấy lớp da. Nhưng lại không cam tâm từ bỏ việc học tập thần công, thế nên cho dù đau nhức cả người mà vẫn vui vẻ, cắn răng tiếp tục kiên trì.


Bộ Thiên Hành nhìn đội ngũ chỉnh tề dưới cái nắng gay gắt, ngoài cảm giác hài lòng, còn có chút nuối tiếc. Tuy rằng người trên giang hồ tính cách bướng bỉnh, bất tuân không chịu bó buộc nhưng chàng không tin là không thể tạo ra một đội thần binh mạnh mẽ vô địch. Tiếc rằng làm thế chỉ để thỏa nỗi khao khát mà thôi.


Lúc này, bỗng có một nữ tử áo trắng hấp tấp xông ra từ khu rừng phía sau, vừa chạy vừa hô:


– Cô gia, cô gia! Sắp sinh rồi, sắp sinh rồi!


Bộ Thiên Hành lập tức nhảy phắt xuống khỏi phiến đá:


– Thật không? Nàng thế nào rồi? – Những người khác đều giật mình, ngay sau đó thì trở nên hưng phấn.


Nữ tử đó đáp:


– Nửa canh giờ trước, người vừa ăn cơm xong thì thấy đau bụng. Đã đi mời bà đỡ rồi.


Bộ Thiên Hành ném roi chạy đi, bỗng dưng nhớ ra, vừa cười vừa nói với về phía sau:


– Đứng đủ một canh giờ cho ta! Sinh con xong ta sẽ mời mọi người đi uống rượu! – Mọi người cười ha hả, nói đại sư huynh mau đi đi.


Bộ Thiên Hành dốc toàn lực để chạy, chẳng bao lâu đã tới tổng đàn Thanh Tâm giáo năm xưa và là Thần Long giáo bây giờ. Chàng vừa xông vào sân đã thấy mấy thiếu nữ đi ra đi vào, tay người nào cũng bê thứ này thứ khác, còn có cả mấy phụ nhân đang bận rộn.


Chàng đi tới cửa, hít sâu một hơi, đang định bước vào thì một phụ nhân ngăn chàng lại:


– Không được đâu cô gia, ngài không thể vào đó được. Không may đâu!


Trong cửa vang lên tiếng hét của Phá Nguyệt, Bộ Thiên Hành biến sắc, gạt bà ta sang một bên:


– Tránh ra. – Bà ta hốt hoảng, nói to là không may mắn. Bộ Thiên Hành đanh mặt, – Ta đã hứa với nàng, khi sinh con ta sẽ ở bên nàng. – Nói xong bèn đi vào trong.


Mấy nữ nhân trong phòng khi nhìn thấy Bộ Thiên Hành đều giật nảy mình, Phá Nguyệt thì mỉm cười dù người mướt mát mồ hôi, vẫy tay với chàng. Bộ Thiên Hành lại gần, nắm lấy tay nàng, nhưng bị móng tay của nàng cắm chặt vào hổ khẩu.


– Đều tại chàng! – Nàng gắt khẽ. – Tháng này chẳng tốt chút nào… nóng sắp chết mất rồi!


Các nữ tử khác đều phì cười, bà đỡ bụm miệng. Bộ Thiên Hành ghé sát tai nàng:


– Tại ta, tại ta hết, được chưa? Sau này chúng ta sẽ chọn tháng, ha ha…


Tuy rằng trách mắng chàng, nhưng nhìn thấy Bộ Thiên Hành, Phá Nguyệt có cảm giác như hổ thêm cánh. Chẳng bao lâu sau, bà đỡ reo lên:


– Nhìn thấy đầu rồi! Rặn mạnh lên! Nín thở đi! Đừng mất tập trung!


Bộ Thiên Hành vốn đứng trước mặt Phá Nguyệt, nắm lấy tay nàng. Nghe thấy lời bà đỡ, lại nghe thấy tiếng reo hò hưng phấn của các nữ tử khác, bất giác ngứa ngáy trong lòng. Người chàng nhoài ra, đầu nghiêng đi, nhìn vào giữa hai chân nàng, nhưng chẳng nhìn thấy gì.


Phá Nguyệt vốn đang nín thở rặn mạnh, ngẩng lên thấy mặt chàng háo hức, tò mò như một đứa trẻ thì không nín thở được nữa, phì cười thành tiếng, đứa bé lại bị tuột vào trong. Bà đỡ gắt lên:


– Đừng cười mà phu nhân, lúc này người còn cười cái gì! Haiz, lại lần nữa nào!


Vất vả suốt nửa canh giờ, cuối cùng cũng sinh được đứa trẻ ra. Là một bé gái xinh xinh, vừa sinh ra đã mở mắt, mi thanh mục tú, đôi mắt đen tròn kháu khỉnh liếc nhìn khắp nơi. Bà đỡ tắm rửa cho đứa bé xong xuôi thì bế tới trước mặt hai người chúc mừng.


Bộ Thiên Hành thận trọng đón lấy con, vô cùng vui vẻ, móc ngân phiếu ra thưởng cho mọi người. Những người có mặt ở đó đều vui mừng hứng khởi, lui ra ngoài trước.


Cánh tay Bộ Thiên Hành cứng đơ khi bế con, nói:


– Nương tử, nhìn này, nó giống ta quá!


Phá Nguyệt nhìn đứa trẻ trong tay chàng, một thanh tú, một anh tuấn, thật chẳng nhìn ra có điểm nào giống nhau. Nàng mệt mỏi cười:


– Giống quá. Chàng luôn muốn có một tiểu tướng quân, giờ sinh con gái, có thấy thất vọng không?


Bộ Thiên Hành cười:


– Ta vốn cũng tưởng rằng mình sẽ thất vọng. – Chàng đặt đứa bé xuống cạnh nàng, đưa tay, ôm cả hai mẹ con vào lòng, – Nhưng khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy con, cảm giác tim mình mềm xuống… sau này ta phải cưng chiều viên ngọc này thế nào mới đủ đây!


Phá Nguyệt nói đùa:


– Nhiều hơn cả cưng chiều thiếp hả?


– Thế thì có lẽ còn kém một chút.


– Hứ! Sau này chúng ta phải cưng chiều con nhất!


– Nghe lời nương tử.


Tiểu Manh Manh ra đời, trong giáo thết yến ba ngày, Bộ Thiên Hành cùng chúng nhân thỏa sức uống say, không hề còn dáng vẻ của một đại sư huynh nữa. Tới ngày thứ tư, mọi người còn đang chìm đắm trong sự thoải mái, không ngờ Bộ Thiên Hành lập tức tăng gấp đôi lượng huấn luyện mỗi ngày.


Chúng nhân luôn miệng kêu khổ, còn tưởng Bộ Thiên Hành có con gái nên không còn tinh lực nghĩ tới việc huấn luyện nữa chứ. Không biết rằng lần đầu tiên Bộ Thiên Hành làm cha, cảm thấy mình có một nguồn sức mạnh dùng mãi không hết. Chàng không thể xen vào những việc vặt trong tháng ở cữ, thế nên đem hết sự nhiệt tình ấy vào việc dạy dỗ các đệ tử.


Bị hành hạ như dưới địa ngục suốt bốn tháng trời, cuối cùng ngày tháng cực khổ của họ cũng kết thúc. Vốn dĩ Phá Nguyệt đã ở trên núi vài tháng, muốn ra ngoài du ngoạn, Bộ Thiên Hành định đưa vợ con xuôi xuống phương Nam tránh đông. Nhưng trước khi đi, chàng cũng không quên dặn dò các đệ tử phải chăm chỉ khổ luyện, kiên nhẫn cùng hai nghìn đệ tử đăt ra lộ trình luyện tập, nói rằng nửa năm sau sẽ quay về kiểm tra.


Khi cả nhà ba người rời khỏi Phọc Dục sơn, nghe nói vì chiến tuyến đã kéo dài ra, các nguồn cung ứng khan hiếm. Đường Khanh lại dụng binh như thần, chiến sự phía Bắc liên tục gặp bất lợi, quân Tư đã lui về phòng ngự tại biên giới miền Nam Quân Hòa. Bộ Thiên Hành khi đó uống rượu cả tối, nói với Phá Nguyệt, chiến sự này e rằng sẽ sớm kết thúc.


Xuân qua thu tới.


Lan Châu nằm ở phía Nam Đại Tư, ven biển, khí hậu nóng ẩm. Cách đất liền, còn có mấy hòn đảo nhỏ, có nơi có ngư dân sinh sống, có nơi lại không có một bóng người.


Lập thu hôm ấy, ánh dương chói chang, sóng biển xanh ngắt. Bộ Thiên Hành mặc chiếc áo ngắn màu đen, vác cần câu đi trên bãi cát, nhìn vợ con nằm dưới ánh mặt trời hệt như chú cá với cái đuôi mềm mại màu trắng.


Trên đảo không có người ngoài. Lần đầu tiên Bộ Thiên Hành thấy vợ mình mặc một cái quần ngắn, cả ngày để lộ tay lộ chân, thấy rất khó chịu. Giờ lại tinh quái nghĩ, thực ra không mặc cũng được.


Chàng lại gần, thấy Phá Nguyệt đang cho con bú. Manh Manh mở to đôi mắt đen láy như viên ngọc, cái miệng hồng đào đang mút sữa rất mạnh. Gương mặt nhỏ ửng hồng, áp sát vào bầu ngực trắng nõn của mẹ, hình ảnh ấy đẹp đẽ và xúc động hơn bất cứ cảnh tượng nào chàng từng thấy.


Con bú xong bèn ngủ thiếp đi. Phá Nguyệt cẩn thận đặt con xuống, vừa chỉnh lại y phục vừa lẩm bẩm:


– Con bé này… còn chưa bú xong.


Bộ Thiên Hành ném cần câu sang một bên, ôm lấy nàng từ phía sau, đưa tay ra:


– Chưa bú xong à?


Phá Nguyệt vừa nhột vừa căng tức:


– Không được chạm vào.


– Không chạm. – Bộ Thiên Hành xoay nàng lại, cúi đầu xuống ngậm lấy, – Ta cũng muốn thử. – Phá Nguyệt vừa thẹn vừa giận, giơ tay đẩy chàng. Nhìn chàng mút mát như như một đứa trẻ, cảm giác vừa kỳ lạ vừa kích thích. Bộ Thiên Hành thực ra cũng cảm thấy y như vậy, hưng phấn một cách kỳ lạ, còn ấm áp vô cùng.


Thấy con đang ngủ ngon, chàng bèn bế nàng lên, đi ra sau một tảng đá lớn ở gần đó.


Trời trong như ngọc, biển xanh như lụa. Những đám mây trắng nhàn tản trôi trên đầu, tiếng bước chân trên cát lạo xạo. Bộ Thiên Hành cởi y phục của mình trải lên tảng đá, đặt Phá Nguyệt xuống.


Nửa người trên của Phá Nguyệt nằm trên tảng đá, ánh nắng trên đầu khiến nàng chóng mặt. Nhưng cảm giác tê dại lại khiến nàng tỉnh táo hơn. Nàng đưa mắt nhìn, thấy chàng đang quỳ xuống, bàn tay to lớn siết chặt đùi nàng. Chàng đã cởi hết y phục của mình, nàng có thể nhìn thấy sống lưng thẳng tắp, mạnh mẽ của chàng, thật thành thục và quyến rũ. Bởi chàng quỳ dưới đất nên nàng có thể thấy hõm đồng tiền đáng yêu của chàng, trên cặp mông săn chắc, đầy đặn. Tưởng tượng cơ thể dũng mãnh như dã thú của chàng sắp điên cuồng tiến vào cơ thể mình, Phá Nguyệt nuốt nước bọt, nơi sâu thẳm trong cơ thể liền mềm ra. Bộ Thiên Hành phát hiện nàng đã chuẩn bị xong, ngẩng đầu lên nhìn nàng. Gò má chàng đã đỏ bừng, ánh mắt cũng ấm áp, dịu dàng hơn hẳn thường ngày.


– Thích không?


Phá Nguyệt vuốt mái tóc dài xõa trên bờ vai chàng:


– Thích. Thích muốn chết đi được.


Kết thúc, Bộ Thiên Hành đích thân mặc y phục cho Phá Nguyệt đang mềm nhũn như bùn. Lúc này, ánh chiều tà đã buông, gió biển nổi lên. Bộ Thiên Hành dùng áo choàng bọc nàng lại, dịu dàng nói:


– Mấy ngày nữa chúng ta trở về nhé.


Phá Nguyệt gật đầu.


Lúc này con cũng đã tỉnh, cười tươi với cha mẹ. Bộ Thiên Hành bế con lên, chỉ vào vì sao xa xa lấp lánh dưới ráng chiều, trêu chọc con. Phá Nguyệt nhặt những con cá mà chàng câu lên, nổi lửa nướng.


Khi hai người ăn cá, Manh Manh ngồi trên chiếu, bỗng chỉ ra mặt biển, bi ba bi bô. Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt cùng đứng lên, một con thuyền nhỏ đang đi về phía hòn đảo khi màn đêm dần buông.


– Đại sư huynh! Đại sư tỷ!


– Bộ Thiên Hành! Bộ Thiên Hành! Nhan Phá Nguyệt!


Tiếng gọi lẫn vào với tiếng sóng.


Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt đều bật cười, Bộ Thiên Hành nói to:


– Người đến là ai?


Bên kia trầm mặc giây lát, giọng nói run rẩy cất lên, hóa ra là mấy đại đệ tử trong giáo. Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt đã lâu không gặp người ngoài, bế con lên, vui vẻ chạy ra đón. Con thuyền nhanh chóng cập bờ, năm sáu người nhảy xuống, đi nhanh về phía họ.


Các người tìm tới được tận đây ư? – Phá Nguyệt cười nói.


– Chúng tôi đi dọc biển tìm suốt năm tháng trời! Cuối cùng cũng tìm được hai người! – Họ vừa kích động vừa buồn bã.


– Xảy ra chuyện gì? – Bộ Thiên Hành cảnh giác hỏi.


Chúng nhân đưa mắt nhìn nhau, thần sắc đều trở nên đau đớn. Một nữ tử nghẹn ngào nói:


– Thì ra hai người ở trên hoang đảo nên không hay biết gì.


Một người khác là bộ hạ cũ của Bộ Thiên Hành, đột nhiên quỳ thụp xuống, bật khóc:


– Tướng quân…


Bộ Thiên Hành túm lấy cánh tay hắn:


– Xảy ra chuyện gì? Đại Tư chiến bại ư?


– Cuối năm ngoái, trận Bắc phạt thất bại, lui binh. Mọi người đều tưởng rằng không phải đánh trận nữa. Ai ngờ một tháng sau, Hoàng đế Quân Hòa băng hà, tân đế hạ lệnh khởi binh phản công Đại Tư.


Bốn tháng trước, Thái tử điện hạ và Triệu Sơ Túc đại tướng quân đích thân dẫn quân, giao chiến với Đường Khanh tại thành Hồ Tô, mười lăm vạn đại quân… bị tiêu diệt mất sáu vạn, bắt sống năm vạn. Thái tử điện hạ và Triệu tướng quân đều tử trận, đại quân Quân Hòa xông thẳng vào, tấn công Đế Kinh!


Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt đều thất kinh, không nói nên lời, những người khác tỏ ra nhục nhã và chịu đựng.


Người đó nói tiếp:


– Đế Kinh chìm trong chiến loạn, Hoàng đế cũng đã… băng hà, Nhị điện hạ kế vị. Chỉ là… nơi nào đại quân Quân Hòa đi qua, thế như chẻ tre. Nghe nói, giờ chỉ có Thanh Luân vương là vẫn chống cự lại Quân Hòa, lãnh năm vạn tàn quân hộ tống tân đế chạy về phương Nam. Tướng quân, đây đâu chỉ là chiến bại. Đại Tư… vong quốc rồi!


Dưới bầu trời xanh lam, thành trì xám xịt, cát bay bụi cuốn. Ngọn núi phía xa bị bao phủ bởi một màn sương mỏng, mặt trời dát lớp vàng mờ ảo lên ngọn núi.


Lều trướng của chủ soái được dựng trên mỏm núi cao nhất cách Mặc Quan hai mươi dặm, để tiện cho việc quan sát tình hình chiến sự và phát hiệu lệnh.


Đỉnh núi rất yên tĩnh, gió thu hiền hòa. Đường Khanh mặc một chiếc áo dài sắc trăng, thắt lưng bằng ngọc xanh, bên ngoài khoác một chiếc áo lông cáo màu đỏ, chân đi đôi ủng, không như một đại tướng mà giống một học trò áo quần là lượt, cao quý hơn người.


Đang lúc mặt trời mọc, hắn khép mắt dựa vào chiếc ghế thái sư, ngón tay trắng trẻo gác hờ lên gối, “vù, vù”, hắn đang nghe tiếng gió.


Chẳng bao lâu sau, có người bước nhanh lên núi, phá vỡ sự bình yên buổi sáng sớm.


Đường Khanh mở mắt ra.


– Mộ Dung Trạm không chịu hàng? – Hắn đứng lên, vạt áo tung bay trong gió. – Thế thì đánh. Có điều, sai người xuống truyền lời, nói rằng bổn soái với Thanh Luân vương thâm giao đã lâu, nay bất đắc dĩ phải khai chiến, thực sự đau lòng. Chiến dịch này cho dù thắng hay bại thì Khanh sẽ đối xử tốt với tướng sĩ dưới trướng Vương gia, người Tư, người Thanh Luân, người Quân Hòa, tuyệt đối không phân biệt sang hèn.


Phó tướng nghi hoặc:


– Nguyên soái, Mộ Dung Trạm dụng binh thần dũng, lần này khó khăn lắm mới bao vây được ở đây, nếu không diệt cỏ tận gốc…


– Có rất nhiều cách diệt cỏ tận gốc, mà cũng có rất nhiều thời cơ, không cần phải vội. – Đường Khanh đưa ánh mắt hiền hòa nhìn thành trì phía trước. – Nay nước Tư đã năm bè bảy mảng, sĩ khí xuống thấp. Ta không thể để Mộ Dung Trạm xuất ra khí phách ngoan cường, không chịu khuất phục trong trận này được.


Phó tướng nghĩ ngợi giây lát, nở nụ cười, nhận lệnh ra đi. Một đứa nhỏ pha trà nóng, dâng điểm tâm lên. Đường Khanh ăn được nửa miếng đã no, cầm văn kiện khẩn mà các bộ gửi tới, chầm chậm mở ra đọc. Lát sau, thấy bên cạnh vẫn không một động tĩnh, bèn bỏ văn thư xuống, mỉm cười hỏi:


– Còn không ăn hả?


Một bóng người màu xanh đậm lặng lẽ từ sau gốc cây bước ra, cầm điểm tâm lên, ăn nhanh như rồng cuốn, lại uống hết nửa bình trà. Sau đó ngồi xuống chiếc ghế thấp bên cạnh Đường Khanh, đôi mắt mơ màng nhìn về thành trì phía trước.


– Ta biết đệ không thích chiến tranh. – Đường Khanh dịu dàng nói, – Đệ luôn trách ta, vì sao lần này lại tấn công Đại Tư, đúng không?


– Ừm. – Thập Tam đáp.


– Đã mấy tháng nay đệ xem ta bày binh bố trận, đã hiểu nguyên do chưa?


– Hình như.


Đường Khanh bật cười:


– Đại Tư mất nước, kết cục này đã định, nay ta nói bí mật cho đệ biết. Đây là quân cơ tuyệt mật, không được tiết lộ cho huynh đệ Bộ Thiên Hành của đệ.


– Khó tìm.


– Thần Long giáo ở Phọc Dục sơn, đừng nói là đệ chưa tới tìm.


– …


– Hắn tuy tài hoa hơn người, nay quân Đại Tư bại như núi đổ, cho dù hắn có tới thì cũng khó xoay chuyển tình thế. – Trong mắt Đường Khanh lóe lên vẻ kiêu ngạo, chỉ ở trước đệ đệ ruột của mình, hắn mới bộc lộ nhiều tâm trạng khác ngoại trừ sự ôn tồn.


– Ta và Hoàng thượng thương nghị chuyện tấn công Đại Tư đương nhiên là vì muốn nhất thống thiên hạ. Nhưng căn bản nhất là Quân Hòa ta đã cưỡi lên lưng hổ khó xuống. Nếu lần này không nhanh chóng tiêu diệt Đại Tư thì hai năm sau, đất nước bị diệt vong sẽ là Quân Hòa ta. A Đồ, đệ nhẫn tâm nhìn cảnh nước mất nhà tan sao?


– Tuyệt đối không. Vì sao? – Thập Tam ngước mắt lên nhìn Đường Khanh, bày tỏ sự chấn động của hắn.


Đường Khanh cười nhạt:


– Còn nhớ ngày trước chúng ta tới quân Tư nghị hòa, bị người ám toán không? Ban đầu, ta tưởng là người Tư làm. Sau đó Hoàng thượng băng hà, nói với bên ngoài là bị bệnh, thực ra là trúng độc.


Thập Tam nhướng mày.


– Ta với Hoàng thượng bí mật tìm hiểu, cuối cùng ta đã điều tra ra, kẻ đứng sau hai vụ đó…


– Lưu Tầm?


Ánh mắt Đường Khanh lóe lên vẻ vui mừng:


– Chính thế.


Hắn chắp hai tay đứng lên con dốc, ngạo mạn nói:

Hắn chắp hai tay đứng lên con dốc, ngạo mạn nói:


– Ngày trước ta không hề nghĩ rằng, trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi, chỉ là một thuộc quốc nhỏ bé mà lại to gan như thế.


Có điều ta nghĩ mãi không hiểu, cho dù là Quân Hòa và Đại Tư lưỡng bại câu thương thì lạc đà chết vẫn còn to hơn ngựa, một tiểu quốc vì sao dám gây chiến? Ta từng gặp quốc chủ Lưu Tầm, Từ Ngạo, hắn là người thận trọng, thuộc kiểu người nếu không mười phần chắc chín thì hắn quyết không phát động chiến tranh. Thế nên, chắc chắn còn một quân cờ khác, là gì?


– Là gì?


– Chỉ có một khả năng, hắn cùng với một ai đó của nước Tư đã có thỏa thuận. Nếu không hôm đó hắn không thể sai gian tế xâm nhập vào giữa hai quân, ám sát chúng ta, chắc chắn là vì có người Tư dung túng, mà người này rất có thể là Thái tử đang vội vàng muốn đăng ngôi kế vị. Nếu giả thiết này là thực, vậy thì người Tư Bắc phạt chiến bại lui binh chỉ là giả. Chúng sẽ nhanh chóng trở lại xâm lược, hơn nữa rất có khả năng còn liên thủ với Lưu Tầm. Nếu thực sự có ngày đó thì cho dù là ta cũng không chắc có phần thắng. Ta đoán Lưu Tầm sẽ chỉ bí mật tham chiến. Như thế mới có thể xây dựng một quốc gia bù nhìn dể giật dây sau khi chúng ta bại trận, lấy danh nghĩa báo thù thao túng lòng người, quay đầu tấn công nước Tư.


– Không phải Tư?


– Đúng, nước có thể xây dựng một quốc gia bù nhìn là Lưu Tầm chứ không phải là Tư. A Đồ, thiên triều đại quốc của Quân Hòa ta, Hoàng đế đã bị Lưu Tầm hạ độc, có thể thấy tên gian tế đó rất lợi hại. Nay các đại thần khắp trong triều có bao nhiêu kẻ là do người Lưu Tầm cài vào? Hoàng thượng vừa mới chấp chính, căn cơ chưa vững, thứ cho ta nghĩ theo hướng xấu nhất, cả đế đô nói không chừng có tới một nửa thế lực đều nằm trong tay người Thiên Tầm. Thiên Tầm tuy nhỏ, ha ha, nhưng những chiêu mờ ám này e rằng đã được dự tính hàng chục năm trời, lâu hơn cả hai nước chúng ta. Thế nên, trận chiến ở Đại Tư có vẻ như Quân Hòa đã thắng, thực tế là đang ở thế loạn trong giặc ngoài, bốn bề thọ địch. Ta với Hoàng thượng thương nghị nhiều ngày, cuối cùng quyết ý tấn công Tư. Một là che mắt Lưu Tầm, để chúng tưởng rằng, chúng ta vẫn chưa phát hiện quỷ kế của chúng. Như thế, Hoàng thượng có thể nhân cơ hội đó diệt sạch gian tế của Lưu Tầm ở Thừa Dương; hai là lần xuất binh này có thể tấn công gây bất ngờ. Ta đã tiêu diệt nước Tư, đồng minh của chúng không còn tồn tại. Lưu Tầm một mình một cõi, với tính cách của Từ Ngạo, tuyệt đối sẽ phải cân nhắc lại thực lực của mình, không ngang nhiên tấn công nữa. Cục diện của thiên hạ từ nay sẽ nằm trong tay Quân Hòa chúng ta. Thế nên lần này ta xuất binh không phải là để xâm chiếm nước khác, mà là hy vọng nguy cơ thiên hạ đại loạn khi ba nước hỗn chiến trong tương lai bị chết từ trong trứng nước. Ta không thẹn với lòng, A Đồ, đệ hiểu không?


Cũng trong buổi sáng hôm ấy, đối với Mộ Dung Trạm mà nói, thật là lạnh lẽo và cô độc.


Bên ngoài cổng thành phía Nam, một nơi bí mật của thành Mặc Quan không có đội công thành của Đường Khanh. Bởi vì Đường Khanh biết, Mộ Dung Trạm chàng sẽ không bỏ thành mà chạy.


Ngoài rừng rậm, hàng ngàn người đã nghiêm trang chờ sẵn. Ở giữa có một chiếc xe ngựa, Mộ Dung Trạm vái lạy. Hoàng đế Mộ Dung Sung ngồi giữa xe, thấy chàng quỳ lạy thì vội vàng bước tới đỡ chàng đứng lên:


– Tiểu Vương thúc, thúc thực sự không chịu lui binh ư?


Mộ Dung Trạm lắc đầu:


– Hoàng thượng, thần không thể lui.


Hoàng đế đỏ hoe mắt, nắm lấy tay chàng, nói:


– Trẫm… tới khi nước mất nhà tan mới hiểu được tấm lòng trung liệt của Vương thúc. Nếu không nhờ Vương thúc mạo hiểm đưa quân tới cứu, trẫm đã sớm chết giữa đám loạn binh. Nhưng tiểu Vương thúc, binh mã của người là đội tinh nhuệ cuối cùng của Đại Tư; bên ngoài thành là mười vạn hùng binh của Đường Khanh. Coi như trẫm xin người, hãy theo trẫm rút về phía Nam, được không?


Ánh mắt Mộ Dung Trạm trở nên dịu dàng:


– Hoàng thượng, chúng ta từ Đế Kinh lui tới nơi này đã là quá xa rồi.


– Nhưng…


– Hoàng thượng, Đường Khanh công phá đế đô, chiếm hơn nửa giang sơn của chúng ta, nhưng không thực sự tiêu diệt Đại Tư. Chỉ cần đế kỳ vẫn còn thì rất nhiều binh lính tận trung với đất nước sẽ nghe tin chạy tới, Hoàng thượng chẳng mấy chốc sẽ có một đội hùng binh. Nhưng sau trận đại bại thành Hồ Tô, quân đội các nơi đều sợ hãi, rối loạn, có lẽ Đường Khanh cũng đã nhận ra điều này nên mới truy đuổi chúng ta tới cùng, là để chúng ta không còn hơi thở, không có cơ hội chỉnh đốn lại cờ trống, hắn muốn đánh tan con thuyền mục, để Đại Tư thực sự diệt vong. Thế nên ta không thể lui, ta phải để người trong thiên hạ thấy, Đại Tư còn có quân đội đang chống lại, chống lại một cách lỗi lạc. Ta phải đánh một trận thật oanh liệt, để bách tính biết, chúng ta vẫn đang chiến đấu!


– Vương thúc! – Lệ đã ướt nhòe mắt Hoàng đế, khoảnh khắc ấy, hắn thực lòng thực dạ vái lạy Mộ Dung Trạm, – Xin nhận của tiểu điệt một lạy! – Hắn nghẹn ngào, – Trẫm biết, Đường Khanh đã tuyên bố với bên ngoài, Vương thúc tài hoa hơn trẫm nhiều lần, hắn ngưỡng mộ Vương thúc đã lâu. Chỉ cần Vương thúc đầu hàng, giao trẫm ra thì hắn sẽ lập tức phong người làm Hoàng đế Đại Tư. Nhưng người giết sứ giả của hắn. Vương thúc, trẫm biết hết…


Mộ Dung Trạm đỡ hắn lên, vuốt mái tóc dài của hắn:


– Hoàng thượng, thần sẽ trung thành với người, như trung thành với hoàng huynh, dẫu muôn chết cũng không từ.


Tiễn hoàng đế đi, Mộ Dung Trạm cưỡi ngựa về thành. Trận quyết chiến ở ngay trước mặt, bầu không khí trong thành lại vô cùng bình lặng. Có lẽ vì đội quân Thanh Luân mà Mộ Dung Trạm dẫn dắt đã trải qua vô số trận đại chiến, đã sớm coi thường sinh tử. Hơn nữa, nay Mộ Dung Trạm tồn tại như một vị thần ở tộc Thanh Luân. Đồng sinh cộng tử, không ai có bất cứ lời oán thán nào.


Một mình Mộ Dung Trạm bước lên ụ thành, đưa mắt nhìn ra xa, chỉ thấy đại quân màu đỏ như một con mãnh thú mai phục trước mặt, trải dài mênh mông nhìn không thấy đâu. Chàng đứng giây lát rồi quay lại thành lầu. Ngọn đèn như hạt đậu, chàng tự mài nghiên, trải giấy, cầm bút, nhưng mãi vẫn chẳng thể hạ xuống.


“Thiên huynh ở trên nhận của đệ một lạy…”, vừa viết được mấy chữ, lồng ngực chàng nghẹn đắng lại. Chàng trở nên nóng nảy, vo tròn tờ giấy, ném xuống đất.


Chàng biết mình không đánh nổi Đường Khanh. Khi ở trong địa phận Quân Hòa, chàng đã là bại tướng của hắn. Có thể kiên trì tới lúc này, chàng tự vấn không thẹn với lòng. Nay lấy ba vạn quân mỏi mệt kháng cự với mười vạn quân chủ lực, có thể chàng sẽ thủ được mười ngày, nửa tháng, nhưng rồi có ngày thành bị phá, chàng bị bắt.


Nếu đại ca ở đây thì cục diện có thay đổi không? Nếu họ ở đây thì kết cục có khác đi không?


Tim đau nhoi nhói, trong lúc đau khổ, chàng đã viết kín một trang giấy.


“Thiên huynh ở trên nhận của đệ một lạy:


Từ sau khi ly biệt ở Quân Hòa, đã hơn một năm. Thời gian vội vã thoi đưa, mà đệ giờ tóc đã pha sương, vài ba sợi như tuyết trắng, mỗi khi rơi xuống lòng bàn tay, lại thấy thời gian thấm thoắt. Lại nghĩ nếu để huynh nhìn thấy, tất sẽ cười đệ thiếu niên tóc bạc, tự mình tìm phiền não. Nhưng cho dù tóc đã bạc hết, nỗi nhớ huynh vẫn đau đáu khôn nguôi.


Đệ người chưa già mà tim đã già. Nước mất nhà tan, dẫn quân loanh quanh Nam Bắc, tuy rằng đã dốc lòng chống cự, cuối cùng vẫn thua người một bậc, bị nhốt ở thành Mặc Quan. Trận chiến ngày mai cửu tử nhất sinh. Tim đệ bình lặng như nước, duy chỉ có nỗi nhớ huynh tẩu là ngày đêm khó ngủ. Việc xưa hiển hiện, huynh đệ nâng chén giục ngựa, thỏa sức uống say, tựa ngày hôm qua, mà xa như kiếp trước. Khi đó không biết thời gian trân quý, nay chỉ đành một mình một bóng đối ẩm, coi như có huynh bầu bạn, căn phòng vắng vẻ, đệ không say chẳng về.


Lúc đã say mèm, đệ lại nhớ ngày phân ly, huynh cầm đao đứng đó, giọng nói vỡ vụn. Chỉ vì Mộ Dung Trạm đệ ngăn cản, khiến một nam nhi đầu đội trời chân đạp đất như huynh không thể báo thù cho cha mẹ, thanh danh bao năm cũng chẳng thể khôi phục. Huynh đối với đệ tình sâu nghĩa nặng, đệ thực sự sống không có gì luyến tiếc, chết chẳng có gì phải sợ. Chỉ mong kiếp sau sinh trước huynh vài năm, có thể làm đại ca của huynh, trả tình nghĩa cho huynh, bảo vệ huynh chu toàn.


Đường Khanh đưa quân bao vây tứ phía, tuy đệ không có tài như huynh, cũng nguyện làm tiên phong của Đại Tư, cố gắng đến hơi thở cuối cùng, vì nước quên mình, chết không hối tiếc. Thiên hạ rộng lớn, chỉ cần lòng người không chết, Đại Tư không chết. Đệ nguyện dùng trái tim cùng bầu máu nóng của mình nhuộm đỏ lá cờ trên đầu, nhuộm thắm mảnh đất dưới chân. Tình này chí này duy huynh mới hiểu, riêng huynh tiếp nối. Ngày nào đó tuy không có đệ bầu bạn, huynh vẫn có thể một tiếng hô trăm lời đáp, phò tá hoàng thất, thu về quốc thổ của ta.


Ngàn vạn lời nói, xin dừng tại đây. Cả đời Trạm có huynh và Phá Nguyệt là đã rực rỡ như gấm, viên mãn như mộng. Đường xuống hoàng tuyền, mình đệ đơn độc. Nguyện nhiều năm sau có thể cùng huynh nắm tay nhìn nhau, không phụ tình huynh đệ tri kỷ, tri âm.


Đừng thương, đừng nhớ.


Mộ Dung Trạm tuyệt bút”.


Sau khi chiến trận nổ ra, thành Mặc Quan luôn bị bao phủ trong cát bụi, tiếng kêu gào và máu tươi. Khi trời sáng, trên bình nguyên ngoài cổng thành, chỉ có vết máu và dấu chân. Tới khi trời tối, nơi ấy đã chất đầy những thi thể đẫm máu. Đêm khuya, Quân Hòa sẽ lặng lẽ phái người chuyển tất cả các thi thể đi, an táng tại một vùng đồi núi ở ngoài thành.


Tình hình trong thành cũng không khác gì, nhưng còn đáng tuyệt vọng hơn. Thi thể chất cao như núi chỉ có thể hỏa táng, những bình tro cốt chất đầy trong phòng chỉ huy của Mộ Dung Trạm, chờ chiến tranh kết thúc, các viên quan chuyên trách sẽ giao lại cho thân nhân họ.


Tới ngày thứ mười, cuộc chiến xảy ra bước ngoặt.


Đó là một buổi sáng trời trong xanh, ánh nắng chiếu lấp lánh trên thành lầu. Sau hơn mười lần tấn công không nghỉ, người Quân Hòa phát động tổng tấn công.


– Tới lúc rồi. – Đường Khanh đứng trên đỉnh núi, nói với quan truyền lệnh.


– Có lẽ đã đến lúc rồi. – Mộ Dung Trạm đứng trên thành lầu, nhìn lần công thành với số lượng lớn nhất của địch quân, thầm nói trong lòng.


Hư hư thực thực, hết lần này tới lần khác tấn công giả rồi tấn công thật đã bào mòn sĩ khí của các tướng sĩ thủ thành. Đó là kế sách của Đường Khanh. Hắn làm rất thản nhiên, Mộ Dung Trạm cũng nhận thấy rất rõ ràng, nhưng chẳng có cách nào.


Quân Tư thấy quân địch cuồn cuộn không ngừng, đã trở nên tê liệt và mặc nhiên. Có kẻ chém giết đã phát điên lên rồi, có kẻ thì mất hết ý chí bỏ cuộc. Chiến trường rất ồn ào, nhưng trong tai của nhiều người, tiếng ồn ào ấy đã kéo dài quá lâu nên nó chẳng khác gì sự im lặng chết chóc giữa một cánh đồng hoang.


Hai cỗ máy ném đá công thành quy mô lớn xuyên qua các binh sĩ Tư, đưa tới trước cổng thành, bắt đầu những lần va chạm kinh hồn. Trong khoảnh khắc, gần như tất cả mọi người, binh sĩ Tư bên trên, người Quân Hòa bên dưới đều nhìn vào cổng thành. Bởi vì chỉ cần cổng thành bị phá, tất cả sẽ không còn gì nữa, và chỉ còn là vấn đề thời gian.


Lúc này, một bóng người màu đen từ thành lầu nhảy xuống. Lập tức có người hô to “Vương gia”, “Thanh Luân vương!”. Nhưng không còn kịp nữa rồi. Người đó dừng lại bên chiến xa, một kiếm đâm chết hai lính Quân Hòa đang tấn công, sau đó nhảy vọt lên chiến xa, đẩy bật nóc, rút kiếm đâm bừa.


Binh sĩ trong đó chết hết, chàng cũng rơi vào vòng vây. Không lâu sau, đại quân màu đỏ đã nhấn chìm chàng.


– Bắt sống Mộ Dung Trạm. – Đường Khanh quát khẽ. Lính truyền lệnh lập tức chạy đi.


– Đệ đi. – Thập Tam đứng lên.


Đường Khanh gật đầu. Chớp mắt Thập Tam đã biến mất, lúc này, lại có binh sĩ rảo nhanh bước chân tới:


– Báo… hai mươi dặm ngoài phía Tây phát hiện có quân Tư, khoảng năm nghìn người. Ngữ khí của gã nghe như không dám tin.


Đường Khanh đang uống trà, nghe nói thế thì ngừng lại giây lát, bỏ tách trà xuống. Phạm vi hoạt động của lính trinh sát của hắn là một trăm dặm, vì sao đối phương áp sát tận hai mươi dặm mới phát hiện ra?


Trên đời này, hành quân nhanh như vậy, nhanh hơn cả quân Đường gia, nhanh tới mức khiến lính trinh sát không kịp đề phòng chỉ có một người.


Hắn đứng lên, nhìn về phía Tây. Nơi đó trời xanh mây trắng, ngọn núi xa xa mờ, mây mù bao phủ, hệt như trong mộng.


– Bộ Thiên Hành lấy đâu ra năm nghìn binh lực? – Hắn nói khẽ, nghe như lẩm bẩm.


– Nguyên soái, bọn chúng đều mặc y phục đen, không giống quân trang của người Tư. Cờ hiệu là… Thần Long Doanh.


Sau khi xuất hiện trong khu rừng, Thần Long Doanh không cần che giấu hành tung nữa, năm nghìn người cưỡi ngựa lao nhanh trên bình nguyên như một cơn lũ đen xuất hiện từ trong sương mù.


Tuy rằng giờ họ mới hiện thân nhưng trên thực tế, họ đã mai phục bốn, năm ngày cách trăm dặm ngoài thành phía Tây. Cũng như Đường Khanh và Mộ Dung Trạm, Bộ Thiên Hành cũng đang chờ thời cơ. Đối diện với mười vạn đại quân của Đường Khanh, chàng chỉ có năm nghìn người, phải gia nhập chiến trường vào lúc nào thì hiệu quả mới là lớn nhất?


Đáp án là phải chờ thời cơ có thể chuyển bại thành thắng, có thể khiến sĩ khí phấn chấn trở lại. Nếu không thì chỉ như muối bỏ biển.


Lúc này, chàng và Phá Nguyệt sóng vai nhau. Sau lưng là năm nghìn đệ tử, nam nữ quân bình. Trong khoảng thời gian chàng và Phá Nguyệt ẩn cư, cô cô lo việc trong giáo đã thành công trong việc mở rộng nhân số từ một nghìn người lên năm nghìn người. Thực ra đa số đều là những binh sĩ chiến bại, không có nơi nào để đi. Cô cô rất thông minh khi tung ra lời đồn nửa thật nửa giả, nói rằng người chủ trì Thần Long giáo là một vị tướng quân đã rời khỏi quân đội, đã đưa tới rất nhiều người.


Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt sau khi về trung nguyên đã tăng cường luyện binh suốt hai tháng trời, khi thăm dò được vị trí chủ lực của Mộ Dung Trạm, bèn khởi binh tới giúp.


Từ đằng xa đã thấy bóng dáng của thành Mặc Quan và đại quân ở ngoài thành. Bảo đao của Bộ Thiên Hành phủ tuyết bấy lâu, nay cũng như sục sôi. Đang định nói mấy lời cổ vũ mọi người thì bỗng một thân binh nhìn thấy nam tử ăn mặc như bách tính chạy tới trước mặt.


– Bộ tướng quân! Kẻ này lén lén lút lút, xuất hiện trong khu rừng phía Đông quân ta, chắc chắn là gian tế Quân Hòa.


Bộ Thiên Hành nhìn kẻ đó, hắn đột ngột ngẩng đầu lên, thần sắc kích động:


– Bộ tướng quân! Là ngài! Thực sự là ngài ư! – Bộ Thiên Hành thấy hắn rất quen, cũng nhận ra đó là thân binh của Mộ Dung Trạm, kinh ngạc thốt lên:


– Sao ngươi lại ở đây?


Tên thân binh đó kích động quỳ trước ngựa:


– Bộ tướng quân, ngài đi cứu Vương gia sao? Tốt, tốt quá! Thuộc hạ đang phụng mệnh Vương gia, nhân lúc quân địch phát động tổng tiến công ở cổng Bắc, thừa cơ xuất thành, đi tìm ngài đây!


Hắn móc trong ngực ra một túi lụa màu vàng, móc ra một bức thư, dâng lên bằng hai tay. Bộ Thiên Hành đưa tay đón lấy, mở ra. Chỉ nhìn thấy mấy chữ “Thiên huynh ở trên nhận của đệ một lạy”, lồng ngực đã như vỡ thành nhiều mảnh, ào ào đổ xuống.


Phá Nguyệt ở rất gần chàng, nhìn thấy đoạn sau, bất giác siết chặt dây cương, hít sâu một hơi, quay đầu đi, ngăn không cho nước mắt rơi xuống. Sống lưng Bộ Thiên Hành thẳng tắp, đôi mắt đen kịt đọc rất chăm chú, khóe môi mím chặt. Đọc xong, chàng không nói gì, chỉ nhẹ nhàng gập bức thư lại, bỏ vào trong ngực, giật dây cương, lao vọt lên phía trước.


– Tướng quân! – Chúng nhân kinh hãi.


– Thiên Hành! – Phá Nguyệt cũng thốt lên.


Chàng lao lên vài bước, đột ngột quay đầu lại, xuống ngựa, quỳ một gối xuống trước mặt chúng nhân. Chúng nhân sửng sốt, thấy chàng cúi đầu, chậm rãi nói:


– Huynh đệ sinh tử của ta đang quyết chiến với địch ở phía trước. Thiên Hành thề quyết tử, bảo vệ đệ ấy chu toàn, bảo vệ thành Mặc Quan. Chư vị huynh đệ tỷ muội, xin nhờ mọi người!


Đường Khanh chắp tay đứng trên đỉnh núi, sau lưng là vô số các trợ tá và tướng lĩnh. Khi nhìn thấy đội quân màu đen như một ngọn chủy thủ sáng loáng từ phía Tây giao chiến trực diện với cánh quân màu đỏ, chúng nhân đều tỏ ra kinh ngạc.


Nụ cười của Đường Khanh lúc nào cũng nhàn nhạt.


Người chỉ huy ở tiền phương là một tướng quân kinh nghiệm rất phong phú của Quân Hòa. Dưới sự chỉ huy của hắn, cơn thủy triều màu đen vẫn bị chặn bên ngoài vòng vây của đội quân màu đỏ, làm chậm lại tốc độ tiến quân. Thi thoảng có một cánh quân màu đen len được vào đội quân màu đỏ, nhưng chẳng bao lâu đã bị nhấn chìm.


Khoảng một tuần hương trôi qua, đội quân màu đỏ đột ngột biến trận, bao vây kỵ binh màu đen vào trong. Nhìn từ đằng xa, trông như ở giữa một vùng biển bao la màu đỏ có một đóa hoa đen u ám đang trôi nổi, dật dờ.


Chúng tướng luôn miệng khen hay, Đường Khanh lắc đầu:


– Tướng quân tiên phong sơ ý quá.


Mọi người không hiểu, Đường Khanh bình thản nói:


– Lúc trước ta đã có lệnh, dùng kỵ binh phòng ngự, không cho Thần Long Doanh tiến về phía cổng thành, từng bước tiêu diệt binh lực của Bộ Thiên Hành. Chỉ cần kéo dài thêm một canh giờ nữa là cổng thành bị phá, năm nghìn quân của hắn cho dù có thần dũng tới đâu thì đại cục đã định, cũng không thể vãn hồi. Nay quân tiên phong chắc chắn là đã trúng kế gì đó của Bộ Thiên Hành, hoặc có thể là không thể chống cự nổi nữa, biến trận, bao vây Thần Long Doanh, như thế chẳng khác nào để ngọn chủy thủ cắm thẳng vào bụng quân mình, không những thương vong rất lớn mà còn bị Bộ Thiên Hành giết tới tận cổng thành. Quân thủ thành thấy viện binh tới, sĩ khí tất sẽ phấn chấn. Thành Mặc Quan hôm nay e là không công phá được rồi.


Những lời này nghe rất bình thản lại khiến người ta rùng mình sợ hãi. Lát sau mới có phó tướng hỏi:


– Nguyên soái, thế chúng ta phải làm thế nào?


Đường Khanh cười nhạt:


– Chẳng làm thế nào. Vây thành ba tháng, không chiến tự hàng.


Chúng nhân đồng thanh khen hay, mỉm cười nhìn xuống tình hình chiến trận bên dưới. Lúc này bỗng có một người một ngựa lao lên, dừng dưới sườn núi. Người trên ngựa bỏ cương ngựa, lao lên núi.


– Nguyên soái! – Người đó nhào xuống trước mặt Đường Khanh, thấp giọng, – Mật chỉ của Hoàng thượng.


Mọi người xung quanh thấy vậy đều tránh đi. Đường Khanh quỳ xuống, đón bức thư mở ra đọc, đột nhiên biến sắc, run rẩy:


– Hóa ra thế…


Hóa ra đó mới là nước cờ ngầm của Lưu Tầm, hóa ra hắn đoán sai rồi.


Hắn đứng lên, lại đọc lại bức thư lần nữa thật kỹ, rồi ném vào lò lửa.


Lát sau chúng nhân đều quay về bên cạnh, thấy thần sắc hắn tỏ ra nghiêm trọng, như có cả vẻ mệt mỏi, nói khẽ:


– Truyền lệnh xuống: Lui binh, toàn quân nghỉ ngơi một canh giờ, lập tức rút về phía Bắc, theo ta về Quân Hòa. Truyền lệnh cho Đông Lộ, Tây lộ và các bộ khác, không tấn công về phía Nam nữa, cố thủ tại chỗ. Chờ mệnh lệnh của ta.


Chúng nhân thất kinh, đưa mắt nhìn nhau rồi đồng thanh:


– Nguyên soái, vì sao lại đột ngột lui binh? – Nay họ đã chiếm lĩnh được quá nửa giang sơn Đại Tư, chỉ cần thêm hai, ba tháng nữa, chúng nhân đều tin rằng mình có thể nuốt chửng Đại Tư.


Đường Khanh trầm mặc không đáp, chỉ chậm chạp lắc đầu. Chúng nhân thấy thần sắc của hắn nghiêm trọng, cũng không hỏi nhiều, đều nhận lệnh rời đi. Một mình Đường Khanh đứng trong cơn gió nhẹ, nhìn thành trì đang nằm trong vòng vây phía trước, rất lâu sau vẫn im lặng không nói gì.


Giữa thiên quân vạn mã, Mộ Dung Trạm không biết rằng viện quân đã tới. Chàng nắm chắc Trạm Nhự kiếm, toàn thân đẫm máu, vẫn dốc toàn lực để đối phó với kình địch của mình, Đường Thập Tam.


Tại cổng thành, cuộc chiến đã đi vào hồi gay cấn. Đúng lúc này, quân đội của Quân Hòa lui về sau một trượng, để lộ ra một bãi đất trống. Chỉ có hai người Mộ Dung Trạm và Thập Tam.


Đây là mệnh lệnh của Thập Tam, khi hắn tới được cổng thành, Mộ Dung Trạm đang như một tử thần đứng ngoài cổng thành, chém giết binh sĩ Quân Hòa. Thập Tam không thích có người khác chen vào, cũng cảm thấy đám binh sĩ ấy thật vướng víu, bèn ra lệnh cho họ cút đi.


Có điều võ công của hắn tuy cao hơn Mộ Dung Trạm một bậc, song hắn chỉ giỏi giết người, nay phải bắt sống thì đúng là không phải sở trường của hắn. Còn Mộ Dung Trạm sát khí nổi lên, dũng mãnh hơn thường ngày rất nhiều, thế nên hai người sau một hồi đánh nhau vẫn khó phân thắng bại.


Các binh sĩ bao quân cũng ngẩn người ra, hai bóng người một đen một xanh như giao long quần thảo. Một nhanh, một ổn trọng; một phóng khoáng, một linh hoạt, cổ quái. Kiếm khí màu trắng kết thành quả cầu lấp lánh, bất cứ ai tiếp cận đều sẽ bị kiếm khí làm thương, máu chảy lênh láng.


Mộ Dung Trạm đánh một cách bi thương mà tuyệt tình, tâm tĩnh như nước hồ, không quan tâm đến sống chết, cũng không quan tâm thua thắng, chỉ biết phải bảo vệ cổng thành sau lưng, không cho bất cứ kẻ nào lại gần. Thập Tam lại càng đánh càng cao hứng, hắn chưa bao giờ giao thủ với Mộ Dung Trạm, nhưng nghe nói chàng là đệ tử chính tông của một cao thủ đại nội, võ nghệ phương chính chuẩn mực. Hôm nay được thấy, quả là chính khí hào hùng, khiếm chiêu chắc chắn, không hoa mỹ nhưng mạnh mẽ, có lực. Hắn là một tên mê võ, nhất thời đánh tới si mê. Mấy lần có cơ hội bắt được Mộ Dung Trạm hắn đều bỏ qua, chỉ muốn được nhìn thấy thêm thật nhiều chiêu thức. Tự cổ tới nay, hai quân giao chiến, vì võ nghệ mà quên đi mọi thứ, có lẽ chỉ có mình Thập Tam.


Mộ Dung Trạm sau một hồi chiến đấu dai dẳng, thể lực đã không còn như trước, nhiều vết thương liên tục chảy máu. Cuối cùng loạng choạng, trường kiếm bị Thập Tam đánh tuột khỏi tay. Thập Tam lập tức thu kiếm đứng im, chắp tay nói với chàng:


– Đa tạ.


Mộ Dung Trạm trầm mặc không nói, bước lên nhặt kiếm, quay lưng về phía Thập Tam, đứng im. Thập Tam đang định tiến lên điểm huyệt của chàng rồi đưa đi thì bỗng dưng thấy gáy mình tê đi, cả người không thể nào dụng lực. Sau đó cơ thể đột ngột bốc lên cao, bị người ta xách gáy lên, đặt lên một con ngựa.


Hắn định thần nhìn lại, hai kẻ áo đen một cao một thấp đứng bên con ngựa.


– Ồ. – Hắn lên tiếng trước.


Phá Nguyệt ngẩng đầu cười với hắn, vừa buồn bã vừa kích động, ngay sau đó lại nhìn về phía trước. Bộ Thiên Hành chẳng buồn nhìn Thập Tam lấy một cái, chỉ nói khẽ:

Phá Nguyệt ngẩng đầu cười với hắn, vừa buồn bã vừa kích động, ngay sau đó lại nhìn về phía trước. Bộ Thiên Hành chẳng buồn nhìn Thập Tam lấy một cái, chỉ nói khẽ:


– Quay về đi. – Chàng vung tay vỗ vào mông con ngựa. Con ngựa tung vó lao nhanh, trong mắt Thập Tam thoáng ý cười, cúi thấp người lao ra ngoài vòng vây.


Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt đều nhìn người trước mắt.


Thân hình của chàng vẫn cao ráo và gầy gò, thẳng tắp như cây tùng, khí độ thoát tục, hoàn toàn khác với kẻ khác, nhìn là nhận ra ngay. Một thân y phục đen ướt đẫm, dán chặt vào người. Đó là máu tươi đã se lại. Đôi ủng, ống quần, phần hông của chàng dính rất nhiều bùn đất đen sì, nhưng trông chàng vẫn không khiến người ta thấy nhếch nhác. Mái tóc dài đen nhánh đã pha thêm màu tuyết, như dòng suối trăng chảy trong bóng đêm, chớp mắt đã thiêu đốt ánh mắt của Bộ Thiên Hành và Phá Nguyệt. Khi chàng chầm chậm quay người, dung nhan đã từng anh tuấn như ngọc, đôi mắt phượng đã từng ánh lên nét buồn của ý thu, nay nhuốm đầy phong sương và máu đỏ…


Khi đó, thời gian dường như ngừng trôi, sau lưng ba người là thiên quân vạn mã, tất cả như không còn tồn tại. Mộ Dung Trạm nhìn thấy hai người, đôi mắt ánh lên vẻ kinh ngạc, mừng rỡ, hổ thẹn, đau khổ, cuối cùng lại là một sự yên lặng dịu dàng, ấm áp.


– Nếu là trên đường xuống hoàng tuyền, đệ sẽ không cô độc một mình. – Bộ Thiên Hành nhìn chàng nói, giọng trầm và khàn. Mặt Mộ Dung Trạm kinh ngạc đau đớn, Phá Nguyệt lại gần, đỡ lấy thân hình đẫm máu của chàng, chàng cúi đầu nhìn Phá Nguyệt, ánh mắt nhu hòa.


Lại có quân địch xông lên, Bộ Thiên Hành quét đao, vẻ mặt vô tình, lưỡi đao sáng như ánh mặt trời, chém đầu hết kẻ này tới kẻ khác. Phá Nguyệt bảo vệ trước mặt Mộ Dung Trạm, giúp chàng ngăn lại những kẻ tấn công; Mộ Dung Trạm cũng giơ kiếm lên, cùng chống địch. Ba người tạo thành một khối giữa trời và đất, bảo vệ cổng thành yếu ớt sau lưng, bất cứ kẻ nào xuất hiện trước mặt họ đều không thể tiếp tục tiến thêm một bước.


Cuối cùng, quân địch thổi còi thu binh. Các binh sĩ Thần Long Doanh đã giết tới trước mặt ba người vui mừng nhìn ra ngoài:


– Tướng quân, địch lui rồi! – Bộ Thiên Hành nhìn hàng vạn người co cụm rút lui có trật tự, gật đầu, rồi mới quay đầu, nhìn Mộ Dung Trạm.


Mộ Dung Trạm buông Phá Nguyệt ra, loạng choạng bước lên mấy bước. Bộ Thiên Hành ôm chặt lấy chàng.


Phá Nguyệt đứng cạnh hai người, vừa vui vừa buồn. Bộ Thiên Hành kéo nàng lại gần. Nàng rơi nước mắt, dang rộng hai tay, ôm hai người vào lòng.


Nửa đêm, ánh trăng trong trẻo như nước, treo trên đỉnh đầu. Ba người xử lý xong quân vụ sau chiến dịch thì ngồi trên nóc nhà cao nhất của thành Mặc Quan.


Sắc đêm thật đẹp, mọi nỗi ly loạn đều được che giấu dưới màn đêm. Núi xa ẩn hiện, sao trời lấp lánh, ánh lửa bập bùng. Con đường bên dưới sáng trưng, xung quanh là các binh sĩ và bách tính đang reo ca chúc mừng.


Giết chết Đường Khanh! Thu lại quốc thổ! Chúng nhân luôn miệng reo vang! Trong mắt họ, chính sự quyết tử của Thanh Luân vương và sự xuất hiện đột ngột của Bộ Thiên Hành đã giúp họ chiến thắng được người Quân Hòa. Cuối cùng Đại Tư cũng thắng trận, họ lại một lần nữa nhen nhóm lòng tin phục quốc.


Bộ Thiên Hành và Mộ Dung Trạm không biết vì sao Đường Khanh lại lui binh. Nhưng cục diện nguy khốn của thành Mặc Quan đã được giải, sĩ khí phấn chấn, tình hình này đã là tốt lắm rồi.


– Nếu Đường Khanh không lui quân thì có phải huynh sẽ cùng đệ chết tại đây không? – Mộ Dung Trạm hỏi.


Bộ Thiên Hành nhìn về phía trước, mỉm cười:


– Thực ra ta vốn định đi một vòng tròn lớn, đánh Thừa Dương.


Mộ Dung Trạm nhướng mày:


– …Thừa Dương?


Bộ Thiên Hành gật đầu:


– Ta đã có năm nghìn quân, nay khắp nơi trên cả nước đều là binh lính bỏ chạy do chiến loạn, nếu tới được biên giới phía Bắc thì ít nhất cũng kéo theo được một vạn người. Chỉ cần có thể đi qua rừng Bạch Trạch là lấy được Thừa Dương, ha ha, gậy ông đập lưng ông mà.


Mộ Dung Trạm hoài nghi:


– Nhưng kế này nguy hiểm quá.


Hai nước bị ngăn cách bởi hai bức tường thiên nhiên, một là sa mạc ngàn dặm, hai là rừng rậm Bạch Trạch. Mặt Tây Bắc của khu rừng bao bọc biên giới Quân Hòa. So với sa mạc thì khu rừng này còn nguy hiểm hơn: rắn độc, trùng độc, người Man hung hãn; có thể nói là cửu tử nhất sinh. Năm xưa nguyên soái Sở Dư Tâm dẫn năm vạn quân tinh nhuệ, vô cùng gian khổ mới đi qua được rừng Bạch Trạch, thế mà cuối cùng vẫn thất bại.


– Đập nồi dìm thuyền[1]. – Bộ Thiên Hành không mấy quan tâm, – Sau đó thăm dò được tin đệ ở đây, bèn quay lại. Còn về việc Đường Khanh vây thành, thời cục khó đoán, làm sao mà nghĩ được nhiều như thế! Nay chẳng phải hắn đã lui binh rồi sao?


[1] Quyết đánh tới cùng (Dựa vào tích: Hạng Vũ đem quân đi đánh Cư Lộc, sau khi qua sông thì dìm hết thuyền, đập vỡ nồi niêu để binh sĩ thấy không có đường lui, phải quyết tâm đánh thắng). (ND)


Mộ Dung Trạm rũ mắt:


– Đa tạ.


Bộ Thiên Hành cười thản nhiên:


– Khách sáo quá.


Hai người lại im lặng. Phá Nguyệt ngồi bên cạnh, thấy không khí có vẻ hơi lạnh nhạt, đoán là trong lòng hai người đều thấy gượng gạo, vừa thấy ấm áp, lại buồn cười, bèn lên tiếng:


– Tiểu Dung, sau này huynh định làm thế nào?


Ý cười của Tiểu Dung càng thêm sâu:


– Chỉnh đốn quân đội các nơi, dựng ngọn cờ khởi nghĩa ở phương Nam, tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có thể đối kháng với Quân Hòa, thu lại những vùng đất đã mất. Đại ca, huynh định làm gì?


Tim Phá Nguyệt đập nhanh, Tiểu Dung lại gọi Bộ Thiên Hành là đại ca rồi sao?


Bộ Thiên Hành nghĩ ngợi một lát, nghiêng đầu nhìn Mộ Dung Trạm, mỉm cười:


– Đại ca đi đánh Thừa Dương cho đệ!


Mộ Dung Trạm chụp lấy cánh tay của Bộ Thiên Hành:


– Nguy hiểm quá, đừng đi!


Bộ Thiên Hành vỗ tay chàng, thản nhiên nói:


– Những gì cha ta làm được thì ta cũng làm được. – Mộ Dung Trạm biết ý chàng khó đổi, nhìn sang Phá Nguyệt:


– Nghĩ cho Phá Nguyệt, huynh không thể đi vào chốn nguy hiểm.


Bộ Thiên Hành nhìn Phá Nguyệt:


– Nàng thấy tủi thân không?


Phá Nguyệt ôm lấy cánh tay chàng:


– Đừng nhiều lời, thiếp muốn đi cùng. – Nàng không nhịn được cười, Bộ Thiên Hành xoa đầu nàng:


– Thế mới là nương tử ngoan. Đi kiếm ít rượu thịt cho bọn ta.


Phá Nguyệt đẩy chàng một cái:


– Thiếp nể mặt Tiểu Dung mới làm chân chạy vặt đấy nhé, không phải vì chàng đâu. – Rồi nàng đứng lên bay xuống khỏi nóc nhà.


Hai người nhìn bóng nàng đã đi xa, Mộ Dung Trạm vừa cảm động vừa buồn bã, chàng rất muốn theo hai người cùng tới Quân Hòa. Nhưng chàng không đi được, chàng phải chủ trì đại cục ở miền Nam, phò tá tân đế.


– Tiểu Dung, mấy năm rồi. – Bộ Thiên Hành nhìn những vì sao giăng mắc khắp bầu trời.


– Phải, mấy năm rồi. – Mộ Dung Trạm cũng ngẩng đầu, thì ra không cần tới trăm năm, đời người cũng có thể bãi bể nương dâu.


– Ta làm cha, có con gái rồi. – Bộ Thiên Hành cười lớn, – Lần này ta để nó ở Phọc Dục sơn, chờ đánh trận xong, ta sẽ đưa đệ đi thăm con gái nuôi. Xinh lắm, mũm mĩm.


Nét mặt Mộ Dung Trạm nhu hòa hẳn đi:


– Đệ nghe nói rồi, con gái rất tốt. Nó… giống huynh hay Phá Nguyệt?


– Giống Phá Nguyệt nhiều hơn. Trắng, mắt rất to, cả ngày bò đi bò lại, giờ chắc biết đi rồi.


– Thế thì chắc đáng yêu lắm. – Mộ Dung Trạm cảm thấy nơi nào đó trong tim mình mềm ra, một cảm giác thật khó nói thành lời, hơi chua xót, nhưng chủ yếu vẫn là hạnh phúc.


– Đệ thì sao? – Bộ Thiên Hành buột miệng hỏi, – Cũng đến lúc tìm người thành thân thôi.


Mộ Dung Trạm trầm mặc giây lát, mỉm cười gật đầu:


– Ừm.


Phá Nguyệt mua rượu thịt của một tửu quán trên phố rồi xách lên nóc nhà, từ đằng xa thấy hai người ngồi sánh vai nhau, trên đầu là sao sáng, dưới chân là ánh đuốc. Họ đều đang cười, nụ cười rất thanh thản, như thể không có mâu thuẫn, cũng chẳng có nỗi buồn. Phá Nguyệt thấy xót xa, buồn bã.


Sau chiến trận ở thành Mặc Quan, cục diện kháng chiến ở Đại Tư đã có sự thay đổi. Quân Tư lưu vong ở các nơi nay đã có đích đến, nhanh chóng tới miền Nam tập kết; các cánh quân của Quân Hòa lặng lẽ lui về phía Bắc, hai bên vạch rõ ranh giới, giữ thế giằng co.


Hoàng đế Đại Tư phong Mộ Dung Trạm làm thái úy, tham nghị chính sự. Phong Bộ Thiên Hành làm nhất phẩm đại tướng quân, nắm quyền quân sự cả nước. Tháng Mười một, trời trở lạnh, Bộ Thiên Hành và Nhan Phá Nguyệt bí mật bái biệt Hoàng đế và Mộ Dung Trạm, lĩnh một vạn quân tinh nhuệ, xuất phát từ phía nam, giả bộ là củng cố biên phòng, đi vòng qua khu phòng vệ của Quân Hòa, tiến về phía Bắc.


Mùa đông là thời điểm hành quân gian nan nhất, cũng là mùa tốt nhất để vượt qua rừng Bạch Trạch. Bởi vì đất trời lạnh lẽo, rắn độc, trùng độc đều giảm đi phân nửa, nghe nói các bộ lạc Man nhân bình thường sống rải rác cũng sẽ trốn trong hang sâu để chờ qua mùa đông giá rét.


Ánh dương trong khu rừng lốm đốm và êm dịu, cây cối ẩm ướt, trên mặt đất là những bông hoa tuyết trắng xóa, lạnh lẽo hệt như trong mơ, đi mãi không đến điểm tận cùng. Nửa tháng đầu tiên, mọi việc đều rất thuận lợi. Có mấy binh sĩ đi nhầm vào bẫy mà người Man giăng ra nên bị thương, còn mấy người nữa vì không thích nghi được thời tiết ở miền Bắc mà mắc phong hàn, ngoài ra trong đội ngũ không có ai tử vong.


Sau đó, trời càng lúc càng lạnh. Mặc dù mang đủ quần áo và lương thực nhưng mọi thứ ngày càng trở nên khó khăn. Cũng may Bộ Thiên Hành trị quân nghiêm ngặt, chúng nhân lại trung thành nhất mực, tuy rằng vất vả nhưng không ai một lời oán thán.


Một ngày cuối tháng Mười hai, đại quân dừng chân dựng lều tại chân núi. Qua khỏi ngọn núi này là sẽ đi vào vùng bồn địa, thời tiết sẽ ấm áp hơn, đường cũng dễ đi hơn. Đi thêm hơn một tháng nữa sẽ tới biên giới phía Tây Bắc Quân Hòa.


Mấy thân binh của Bộ Thiên Hành săn được hai con gấu trắng, mọi người hoan hỉ chia nhau. Bộ Thiên Hành cắt một cái tay gấu, một miếng thịt ngực, cùng Phá Nguyệt và mấy thân binh nướng thịt trong một góc rừng; số còn lại, chàng dặn đầu bếp nấu thành canh cho mọi người được ăn đồ tươi.


Đang là chính Ngọ, tuy rằng không có mặt trời nhưng cũng không quá lạnh. Sau khi nổi lửa thì lại càng ấm hơn. Mười mấy người ngồi quanh một đống lửa, Phá Nguyệt đích thân nướng thịt. Mùi thịt lan tỏa, Bộ Thiên Hành và thân binh đều nuốt nước bọt, nhìn chằm chằm vào miếng thịt.


Thịt đã nướng xong, Bộ Thiên Hành thiên vị, đòi để lại hơn nửa cái tay gấu cho Phá Nguyệt, mọi người đương nhiên không có ý kiến gì. Phá Nguyệt nhìn cái tay gấu còn to hơn mặt mình mà cười khổ, khó khăn lắm mới ăn được một nửa nhỏ. Nàng đưa cho Bộ Thiên Hành, chàng lại không nỡ ăn, bảo nàng để lại, bữa sau ăn tiếp.


Phá Nguyệt được chàng cưng chiều mà nghe lòng ngọt ngào, ngoan ngoãn đặt cái tay gấu lên tảng đá bên cạnh, nghĩ bụng chờ đến đêm không có người sẽ cùng chàng ăn.


Mọi người ăn uống no say thì ngồi trong lều nói chuyện. Phá Nguyệt đang thu dọn dụng cụ nướng thịt thì bỗng ngẩn người ra. Nửa cái tay gấu để trên tảng đá ban nãy đã biến mất.


Phá Nguyệt còn nhớ rõ, ban nãy không có ai lại gần chỗ này, tay gấu chắc chắn đã bị người khác trộm lấy. Dõi mắt khắp toàn quân, không thể nào có người dám lấy trộm đồ ăn của tướng quân. Phá Nguyệt nín thở, quả nhiên nghe thấy sau gốc cây phía trước có tiếng thở và tiếng nuốt thức ăn nhỏ tới mức hầu như không nghe thấy.


Chắc chắn là vì ban nãy mọi người nói chuyện to tiếng nên nàng và Bộ Thiên Hành mới không nghe thấy có tiếng người lại gần. Phá Nguyệt đưa mắt ra hiệu cho Bộ Thiên Hành. Chúng nhân đều là người có kinh nghiệm hành quân, thấy thế thì trở nên cảnh giác.


Bộ Thiên Hành đứng bật dậy, thân hình nhanh như quỷ mị, chớp mắt đã tới sau gốc cây. Chỉ nghe thấy tiếng thở dốc của kẻ đó, tiếng “bịch” rơi xuống trên nền tuyết, xương tay gấu trắng nhởn đã bị gặm sạch sẽ rơi xuống, kẻ đó bị Bộ Thiên Hành lôi ra,đứng đờ đẫn như một con rối, nhìn mọi người.


Là trẻ con.


Không cao lắm, chỉ tới thắt lưng của Bộ Thiên Hành, khoảng mười tuổi. Cách ăn mặc của nó rất lạ: Mái tóc dài như tảo biển xõa trên vai, trong màu đen còn có màu xám, màu sắc nhàn nhạt rất kỳ quái. Mặt mũi lấm lem, bẩn thỉu, lại còn bôi mấy vạch màu đỏ trên mặt, không biết là cái gì, nhưng đôi mắt thì đen láy và ngời sáng. Trên người nó mặc một bộ da thú rất dày, tứ chi lộ hết ra ngoài, người ngoài nhìn nó cũng thấy rùng mình vì lạnh.


Mọi người đều hiểu ra, họ đã bắt được một người Man lấy trộm thức ăn.


– Tiểu tử, ngươi ở đâu chui ra hả? – Bộ Thiên Hành hỏi, – Cha mẹ ngươi đâu?


Thằng nhóc Man chớp mắt, không lên tiếng, gương mặt sợ hãi, hoang mang.


– Có lẽ nó không hiểu. – Phá Nguyệt nói, cầm miếng thịt lên đưa cho nó. Nó nhìn Phá Nguyệt, im lặng giây lát rồi đưa tay ra giật lấy miếng thịt, ngoạm một miếng to. Các nam nhân ở đây đã thấy mình thô lỗ lắm rồi, vậy mà nhìn thằng bé này ăn mới biết còn có người hơn mình.


Chẳng bao lâu, nó đã ăn hết miếng thịt, Phá Nguyệt lại cho nó uống rượu, nó uống ừng ực hết cả bát, lại còn ợ một cái đầy khoan khoái, ánh mắt mơ màng. Phá Nguyệt bật cười, dù sao cũng là một đứa trẻ con.


Mọi người đều nhìn nó, chẳng hiểu nó lấy ở đâu ra một cái răng thú dài bằng ngón tay trỏ, cong cong, trắng trắng, đưa cho Phá Nguyệt. Sau đó toét miệng cười. Phá Nguyệt nhận cái răng thú, rất cảm động.


– Hỏi xem chúng có bao nhiêu người? Những Man nhân khác ở đâu? – Bộ Thiên Hành nhìn thằng nhóc Man, nói.


Phá Nguyệt ngơ ngác nhìn chàng:


– Thiếp hỏi kiểu gì? Nó có hiểu đâu.


Bộ Thiên Hành cười:


– Nương tử dịu dàng thông tuệ, tất sẽ có cách. – Chúng nhân nghe thế thì đều cười.


Phá Nguyệt nghĩ ngợi giây lát, vỗ vai thằng nhóc Man, đưa tay đếm số người có mặt ở đó, tổng cộng là mười một người. Nàng bèn nhặt mười một que trên đất, dồn xuống trước mặt, rồi lại chỉ vào nó.


Thằng nhóc ngẩn ra giây lát, cúi xuống bắt đầu nhặt đá, cho tới khi nó chất thành một đống nhỏ trước mặt Phá Nguyệt. Chúng nhân càng thấy ngạc nhiên, một cách đơn giản, dễ hiểu như thế mà Phá Nguyệt cũng nghĩ ra, bất giác càng thêm khâm phục. Bộ Thiên Hành mỉm cười, thực ra chàng bảo Phá Nguyệt nghĩ cách, một là vì thằng nhóc có vẻ rất tin tưởng Phá Nguyệt; thứ hai là nhớ ra bình thường Phá Nguyệt dạy Manh Manh học số cũng thường dùng vỏ sò. Chỉ có điều Manh Manh chẳng bao giờ đếm xỉa gì tới nàng mà thôi.


Phá Nguyệt đếm xong, nói với Bộ Thiên Hành:


– Bọn họ có hai trăm bảy mươi tư người.


Thằng bé vẫn tiếp tục nghịch đá, chúng nhân im lặng.


Tuy rằng là vạn quân, nhưng hành quân trong rừng nên đội ngũ phải kéo dài. Người Man hành động nhanh nhẹn, sức khỏe như trâu. Chỉ nhìn thằng nhóc này, có thể xâm nhập vào trong quân mà không bị thân binh phát hiện, đủ thấy sự nhanh nhẹn, linh hoạt của họ. Người Man trưởng thành e rằng càng khó đối phó hơn. Nếu phải xung đột với hơn ba trăm người Man thì có lẽ thương vong sẽ vô cùng lớn.


– Hỏi nó ở đâu? – Sắc mặt Bộ Thiên Hành trở nên nghiêm trọng, lời đã thốt ra, mới nghĩ ra đây không phải là con số, Phá Nguyệt phải làm thế nào?


Phá Nguyệt thì có vẻ chắc chắn, chỉ vào lều của mình, kéo đứa trẻ vào đó nằm xuống. Đứa trẻ tò mò nghịch một lát. Phá Nguyệt kéo nó ra, chỉ vào nó.


Nó lại hiểu, chỉ ra sau lưng mình, đưa tay kéo Phá Nguyệt đi theo.


Chúng nhân đưa mắt nhìn nhau, cả mừng. Chỉ cần tìm được nơi ở của người Man là có thể giành thế chủ động.


Chẳng ai ngờ được rằng, đúng vào lúc này, trong khu rừng phía trước bỗng vang lên tiếng hét, âm thanh ấy nghe thật thảm thiết khiến cả quân doanh chấn động.


– Chuyện gì vậy? Bộ Thiên Hành cao giọng hỏi.


– Đại tướng quân! Trong khu rừng phía Đông có một cột khói trắng bốc lên! Có huynh đệ hít phải, là trúng kịch độc! – Có người đáp vọng lại.


Giọng người đó vừa dứt, lại có mấy tiếng hét nữa vang lên.


– Nằm xuống! Đừng hít khói độc!


– Á! Có người bắn tên!


– Kết trận! Đừng để chúng bắn bị thương!


– Đại tướng quân! Phía Đông có địch nhân đánh lén! Không rõ nhân số!


Phá Nguyệt nhìn gương mặt nặng nề, lạnh lùng của Bộ Thiên Hành, lòng đầy hoài nghi: Ai đánh lén vào lúc này? Chẳng nhẽ là hành tung đã bị lộ, Đường Khanh phái người tới đây? Hay là…


Truyện đánh dấu

Nhấn để xem...

Truyện đang đọc

Nhấn để xem...
Nhấn Mở Bình Luận