Cô Phương Bất Tự Thưởng


Gió đêm.


Bình an ra khỏi biệt viện canh gác cẩn mật.


Sính Đình cầm tay nải đơn giản, sau lưng chỉ có mình Đông Chước. Nàng quay lại, nhìn về phía những đốm đèn ẩn sâu trong lưng chừng núi.


Đốm sáng nào mới là ánh sáng trên bàn thiếu gia? Quay đầu nhìn lại, nàng càng cảm thấy nấc nghẹn.


“Đừng tiễn nữa”, Sính Đình ngăn Đông Chước lại, “Về đi”.


“Đệ…” Định nói gì lại thôi, Đông Chước đặt dây cương ngựa vào tay Sính Đình, quay người, buồn bã nói: “Bảo trọng”.


Sính Đình lên ngựa, tuấn mã lồng lên, khiến nàng lảo đảo, phải cố cắn răng ngồi cho vững. Chưa kịp quất roi, Đông Chước khẽ gọi một tiếng: “Tỷ tỷ…”.


Sính Đình quay đầu.


Như không thể giấu nổi những lời trong lòng, Đông Chước ngẩng lên nói với nàng: “Thực ra đệ đã nói với thiếu gia chuyện tối nay rồi”.


Sính Đình nhìn Đông Chước, rồi lại hướng ánh mắt về nơi vương phủ Kính An đang nghỉ ngơi. Ngày mai, họ lại xuất phát, đổi sang chỗ ẩn náu khác an toàn hơn. Cảm giác bi thương dâng trào, nàng cố nén cảm xúc, hỏi: Thiếu gia nói thế nào?”


“Thiếu gia nói, nếu tỷ tin vào bản thân thì sẽ không rời khỏi chúng ta. Tỷ muốn đi, chúng ta không nên ngăn, và cũng chẳng có cách nào ngăn được.”


“Còn gì nữa?”


Đông Chước cúi đầu: “Hết rồi”.


Sính Đình nhếch môi cười, lặng lẽ thở dài: “Đông Chước, ngươi đã trưởng thành thật rồi, cũng đã biết nói dối”.


“Đệ…” Đầu Đông Chước càng cúi thấp hơn, hồi lâu mới khẽ mấp máy môi, “Thiếu gia nói, vốn dĩ tỷ có thể tự đi, nhưng vẫn tìm đến đệ, thực ra… thực ra chỉ là muốn dùng thêm một kế với thiếu gia, ép thiếu gia tiến thoái lưỡng nan. Thiếu gia nói, nếu trước đây thiếu gia sẽ nguyện trúng kế, để giữ tỷ ở lại, nhưng hiện giờ…”.


“Giờ là thời khắc sống chết tồn vong của vương phủ, nên đành phải vứt bỏ một thị nữ…” Sính Đình chậm rãi nói tiếp một câu, rồi ngẩng đầu lên nhìn bầu trời đầy sao, cố nở nụ cười, gật đầu, “Ta nói cho ngươi biết, thiếu gia không đoán sai đâu”.


Chẳng đợi Đông Chước kịp nói gì, Sính Đình đã quất roi ngựa.


Con tuấn mã chọn lọc của vương phủ hí vang một tiếng, rồi gõ móng lao vút đi. Nàng nắm dây cương, để mặc nước mắt trào ra.


Từ biệt nhé, vương phủ Kính An! Xưa huy hoàng tráng lệ, nay mai danh ẩn tích, không còn liên quan gì đến Bạch Sính Đình nữa.


Ly hồn bảo kiếm vẫn dựng bên cửa sổ. Ngày mai khi mặt trời lên, ánh dương chiếu vào thân kiếm tạo nên những hào quang chói mắt sẽ tỏa trên cái giường trống của muội. Đó từng là trò chơi thuở thiếu thời của chúng ta.


Đáng tiếc, Sính Đình không đủ vô tình.


Nếu vô tình, Sính Đình sẽ đặt thanh kiếm chếch sang một bên, ánh sáng sẽ phản chiếu lên chiếc chuông đồng bóng loáng như mặt gương trên nóc nhà đối diện, chuông đồng lại phản chiếu ánh sáng ra phía xa, làm kinh động đám quan binh đang truy tìm vương phủ Kính An gần đó.


Thiếu gia, à, Hà Hiệp, ngày mai khi nhìn thấy Ly hồn, huynh sẽ nghĩ thế nào?


Mặt trăng ẩn sau những đám mây, mặt trời dần dần ló dạng từ phía đằng đông.


Ngựa cuốn tung bụi cát, phi như bay trên con đường đất đỏ tiến về phía Bắc.


Trên khuôn mặt thanh tú, nước mắt đã dính đầy bụi đường, Sính Đình quay sang, nhắm hờ đôi mắt nhìn về phía mặt trời đỏ như màu quýt. Mặt trời sắp nhô cao, cảm giác thật ấm áp, nhất định càng lúc sẽ càng chói chang hơn.


“Đi!”, Sính Đình hào sảng hô lên một tiếng, vung roi quất ngựa.


Gió thổi rát mặt, chạy thôi, qua hết con đường đất đỏ dài vô tận này, chính là Bắc Mạc, nơi không có Hà Hiệp, cũng chẳng có Sở Bắc Tiệp.


Cuối cùng, nàng đã đến được địa giới của Bắc Mạc. Thảo nguyên với thảm cỏ bao la, đẹp như lời Dương Phượng từng nói. Phía cuối chân trời là những ngọn núi trập trùng. Qua một mùa đông lạnh lẽo, khí thế mùa xuân của phương Bắc còn mạnh hơn cả phương Nam. Trong rừng cây tươi tốt trên triền núi, từng bụi cây lúp xúp mạnh mẽ ngẩng cao đầu.


Một dòng suối trong vắt từ trên đỉnh núi quanh co uốn lượn đổ xuống tận chân núi.


Lữ khách phương xa chọn chỗ nước suối trong mát nhất, dừng lại rồi buộc thừng ngựa quanh gốc cây. Không khí mát lành dịu dàng ôm ấp thân hình nàng, khuôn mặt không được xem là đẹp gầy đi đôi chút, đôi mắt tinh nhanh hơn thủy ngân. Nàng chậm rãi lấy cỏ mềm đắp lên trán, nhìn về phía thảo nguyên mà nàng vừa đi qua.


Xa xa có người dân du mục đang cất cao tiếng hát.


“Hùng ưng bay tới, trời càng cao. Cô nương xinh đẹp đuổi theo chú ngựa con trên đồng cỏ…”


Sính Đình bật cười, cúi xuống múc nước.


Lạnh quá, chắc nước do những bông tuyết tan ra, chảy từ trên núi xuống.


Khoan khoái uống một ngụm, nàng nhắm mắt tận hưởng, sao mà ngọt quá.


Sắp tới rồi, mệt mỏi nhưng khoan khoái bôn ba đến cùng, đến chỗ ẩn mình của người bạn thuở xa xưa.


Dương Phượng đã từ bỏ tất cả để lựa chọn con đường này, có đúng đường không?


Con đường mà nàng đang lựa chọn, thẳng đến Bắc Mạc. Ở đó có trời xanh mây trắng cỏ non… Cũng có thể, nàng sinh ra đã hợp với nơi này, người dân hào phóng chất phác, bớt đi toan tính hãm hại lẫn nhau.


Sính Đình chọn một gốc cây to thẳng bên đường, ngồi xuống nghỉ ngơi.


Nước chảy róc rách, sơn thủy hữu tình.


Trong lúc nhắm mắt dưỡng thần, nàng bỗng nghe thấy tiếng chân ai đó.


Có người? Sính Đình mở to mắt nhìn về phía phát ra tiếng động. Cũng là một vị khách qua đường thấy cảnh đẹp nước trong nên xuống dắt ngựa đi tới.


Là một nam nhân, ánh mắt có thần sáng ngời, bộ râu quai nón khiến người ta không đoán được tuổi, vai rộng, lưng đeo cung, hông thắt kiếm, đều là những vật bất ly thân.


Phát hiện chỗ này đã có người, lại là một nữ tử mắt to, nam nhân đó hơi sững lại.


“Ngựa tốt.” Nam nhân chẳng có hứng thú với Sính Đình, ánh mắt dừng lại trên con tuấn mã, lộ rõ vẻ hâm mộ. Sính Đình mỉm cười, đứng dậy tháo dây cương. Nàng phải đi rồi.


“Cô nương, ngựa này có bán không?”, giọng nói thật to, giọng của người quen thét ngựa trên thảo nguyên.


Nhãn quang của người này quả không tồi. Đây là con ngựa tốt nhất nhì trong vương phủ Kính An. Cũng coi như Đông Chước còn có chút lương tâm, ngoài ngựa tốt, hắn còn chuẩn bị cho Sính Đình không ít tiền vàng.


“Không bán.” Nàng sảng khoái nhảy lên lưng ngựa, cái giá phải trả cho sự phong độ này là cảm giác hoa mắt chóng mặt bao quanh. Sính Đình ngồi yên trên lưng ngựa để thích nghi với sự kháng nghị của cơ thể mệt mỏi, hồi lâu mới mở mắt, “Đại ca, cho hỏi sơn trại Đóa Đóa Nhĩ ở đằng trước kia đúng không?”.


“Cô nương muốn đến sơn trại Đóa Đóa Nhĩ à?”


“Vâng.”


“Cô nương là người của sơn trại?”


“Không, ta chỉ đến tìm người.”


Nam nhân cười đáp: “Sơn trại chuyển đi rồi, cô nương có đến cũng không tìm được ai”.


“Chuyển rồi?”, Sính Đình kinh ngạc, “Sao lại chuyển? Chuyển đi đâu?”. Trong đầu nàng thoáng qua bao nhiêu ý nghĩ. Dương Phượng sẽ không vô duyên vô cớ chuyển đi, trừ khi đã xảy ra chuyện gì.


Vì cần giữ bí mật, sau khi biết được điểm dừng chân của Dương Phượng, Sính Đình vẫn không liên lạc với người bằng hữu ấy, thế nên lúc này nàng không có cách nào biết được nguyên do.


“Mới chuyển gần đây thôi.”


“Người trong sơn trại đi đâu hết rồi?”


“Cô nương, bán con ngựa này cho ta đi.” Trong mắt người dân du mục, ngựa tốt cũng quan trọng như cô gái mình yêu thương.


Sính Đình cong môi: “Huynh biết việc trong sơn trại Đóa Đóa Nhĩ? Huynh tên là gì?”.


“Ta tên A Hán. Rốt cuộc cô nương có bán ngựa không?”


Nàng bỗng nhẹ nhàng nhảy xuống ngựa, đưa dây cương cho người kia: “Tặng huynh đấy, ta chỉ muốn biết tin tức của bằng hữu thôi”.


A Hán mỉm cười lắc đầu: “Ta không lấy không ngựa của cô nương”. Nói rồi, hắn lấy ra số bạc gấp hai lần lượng bạc mua một con ngựa bình thường đưa cho Sính Đình, “Ta nói cho cô nương nghe, trại chủ sơn trại Đóa Đóa Nhĩ không phải người bình thường! Đó chính là Tắc Doãn tướng quân uy danh lẫy lừng. Có ai ngờ Tắc Doãn tướng quân lại ẩn cư nơi sơn trại nhỏ bé này? Nay Đại vương lại đưa tới bao nhiêu báu vật để mời Tướng quân ra làm thượng tướng quân của Bắc Mạc chúng ta. Vì thế, Tướng quân Tắc Doãn đã xuống núi, người ở sơn trại Đóa Đóa Nhĩ cũng chuyển hết đến thành đô Bắc Nha Lý rồi”.


“Vậy à?” Sính Đình chau mày, trầm ngâm một hồi, rồi trả lại bạc cho A Hán, nói, “Cầm lấy, ta mua ngựa của huynh. Huynh mua ngựa của ta, ta cũng phải mua một con khác để dùng chứ”. Đáng lẽ nàng nên đổi sang con ngựa không có dấu ấn của vương phủ Kính An từ lâu rồi mới phải.


“Không được, ngựa của ta không tốt bằng ngựa của cô nương, ta không muốn để cô nương chịu thiệt.”


Sính Đình nhanh chóng cởi dây cương ngựa của nam nhân kia, nhảy phắt lên, rồi quay lại nháy mắt tinh nghịch: “Đại ca, cứ cất tiền đi để tìm một phu nhân tốt, huynh là người tốt mà!”. Dứt lời, nàng quất nhẹ roi lên mông ngựa, để lại tiếng cười trong như chuông bạc.


Không khí trên thảo nguyên thực khiến lòng người phơi phới. Ngay cả vị thanh tân của cỏ non, cảnh sắc đẹp đẽ nhất ở Quy Lạc và Đông Lâm cũng không thể sánh bằng. Tiếng hát vui vẻ của người dân du mục vẫn vang lên đâu đó, nghe thật xốn xang.


“Thảo nguyên của trâu và ngựa, là quê hương ta đó, sông chảy xiết, cỏ xanh non, đều không bằng cô nương của lòng ta…”


Sính Đình mỉm cười, nhưng vẫn không thể xua tan nỗi lo trên hàng lông mày đang nhíu chặt lại.


Tắc Doãn, đại tướng dũng mãnh của Bắc Mạc chẳng phải đã quyết định lui về ở ẩn để Dương Phượng cả đời vui vẻ sao? Nay bỗng đồng ý với Đại vương Bắc Mạc quay lại triều đinh, việc đó chứng tỏ điều gì?


Vốn dĩ chỉ cần đi thêm nửa ngày đường là có thể gặp được Dương Phượng, nhưng nay sơn trại Đoá Đoá Nhĩ đã chẳng còn ai, nàng đành phải đi tiếp đến thành đô Bắc Mạc, Bắc Nha Lý.


“Muốn vui vẻ mấy ngày cũng không được hay sao?”, Sính Đình nhăn nhăn cái mũi nhỏ, ngẩng lên nhìn trời.


Một mình trên cả chặng đường dài, Sính Đình đã quen với việc tự lẩm bẩm một mình.


Bên cạnh nàng không còn bốn chữ sơn vàng “Vương phủ Kính An” liệu có phải là việc tốt? Còn ở Đông Lâm? Sở Bắc Tiệp…


Bất giác, lông mày càng chau lại, nàng di di ngón tay trên đó, như thể làm thế có thể xoa dịu cơn đau trong trái tim.


Nàng học theo người dân trên thảo nguyên cất cao giọng hát, vung roi ngựa. Bụi bay mù mịt, cái bóng kiều diễm trên thảo nguyên càng đi càng nhỏ dần.


Vẻ mệt mỏi khắc trên khuôn mặt kẻ lữ hành, những ánh tịch dương cuối cùng còn sót của ngày tàn lại rải xuống, người mang nỗi đau xé lòng giờ đang ở phương nao?


Mong trời cao có linh, ban cho ta cỏ xanh ngút ngàn và nước uống quên sầu, để ta tiêu dao khắp chân trời góc bể…


Sau năm lần bảy lượt Đại vương triệu hồi, Tắc Doãn – đại tướng Bắc Mạc – đã quay lại với triều đình Bắc Mạc.


Bắc Mạc vương không chỉ coi trọng Tắc Doãn ở mức bình thường.


Năm đó, khi mãnh tướng này muốn về ở ẩn, Đại vương Bắc Mạc đã ở trong vương cung rầu rĩ ba ngày, khuyên giải ba ngày. Mãnh tướng trẻ tuổi thanh danh lẫy lừng, nam nhi tốt trong lòng các cô nương Bắc Mạc, bậc anh hùng chân chính, bỗng nhiên vì một nguyên nhân không chịu nói ra, đã quyết vứt bỏ tiền đồ rộng mở.


“Chắc chắn vì tình”, Bắc Mạc vương phán đoán.


Không yêu giang sơn, yêu mỹ nhân, chẳng phải truyền thuyết mà là đời thực.


Tắc Doãn hùng dũng oai vệ đứng trước Bắc Mạc vương, ung dung mỉm cười. Nhìn nụ cười đong đầy niềm khao khát ấy, Đại vương Bắc Mạc đã biết kẻ làm vua này không thể giữ được vị đại tướng tài năng bậc nhất Bắc Mạc.


Khi nam nhân yêu một nữ nhân, không gì có thể ngăn nổi những việc ngây dại mà nam nhân ấy muốn làm.


©ST.E.NT


Đại vương Bắc Mạc không thể không gật đầu.


Nay Tắc Doãn đã trở lại.


Vị đại tướng quân vốn được dân chúng Bắc Mạc yêu thương sùng kính đã quay trở lại. Vị tướng quân ấy sẽ lại dẫn binh bảo vệ biên cương Bắc Mạc. Đây là tin khiến cả nước vui mừng.


Bản trường ca vui vẻ của Bắc Nha Lý khi Tắc Doãn dẫn theo cả sơn trại Đoá Đoá Nhĩ vào thành, không những nhận được sự ủng hộ của hàng vạn bách tính, mà còn có cả Đại vương Bắc Mạc thân chinh dẫn theo các quan đến nghênh đón.


Phủ thượng tướng quân vừa được xây mới dành riêng cho Tắc Doãn giăng đèn kết hoa, huy hoàng rực rỡ. Dương Phượng ở trong căn phòng tinh xảo nhất, lắng nghe tiếng huyên náo vượt qua bao bức tường. Tắc Doãn đã bị triệu vào cung, còn nàng thì đang vừa mừng vui vừa kinh ngạc chào đón cố nhân.


Khi thị nữ dâng lên tín vật của một vị khách không chịu báo danh tính bên ngoài cửa, đôi mắt Dương Phượng cứ mở to, nhìn chằm chằm như không thể rời ra.


“Còn muốn nhìn bao lâu nữa?”, Sính Đình ngồi trên ghế, mỉm cười hỏi.


“Lâu lắm không gặp, không cho ta nhìn muội thêm một lúc sao?” Dương Phượng khẽ than thở, rồi đưa năm ngón tay trắng mịn ra, “Sính Đình, để ta ngắm muội thật kỹ”.


Sính Đình cười khúc khích, nói: “Tuân lệnh, Tướng… không, phải là Thượng tướng quân phu nhân”. Nàng chầm chậm bước tới bên giường ngồi xuống cạnh Dương Phượng.


Hai đôi mắt thông tuệ nhìn nhau, trong con ngươi linh hoạt hơn thuỷ ngân cùng hiện lên bóng dáng của nhau.


“Muội gầy đi nhiều.”


Sính Đình bật cười: “Tỷ đẹp lên nhiều”.


“Ta nhớ muội lắm, nhớ những chuyện hồi nhỏ của chúng ta. Ngoài muội ra, ta không tìm được ai để nói chuyện.”


“Dương Phượng…”, Sính Đình bỗng gọi, “Tại sao tỷ không hỏi?”.


“Hỏi?” Nụ cười của Dương Phượng như ngưng lại, nàng cúi đầu, “Ta… ta không dám hỏi. Nếu không đến lúc vạn bất đắc dĩ, liệu muội có chịu rời xa thiếu gia nhà mình? Những việc có thể khiến muội vạn bất đắc dĩ, chắc chắn rất đáng sợ”.


Như mặt trống đang căng bị kim châm mạnh một cái, Sính Đình cố cười, nói: “Đúng là nguy hiểm. Tỷ hãy đàn cho muội nghe một khúc, rồi muội nói với tỷ tất cả mọi việc”.


Cây đàn thường dùng đặt ngay trên chiếc bàn bên cạnh giường. Dương Phượng nhìn Sính Đình, vén ống tay áo dài tha thướt lên, đầu ngón tay khẽ chạm vào phần cuối dây đàn.


Tinh…


Một âm thanh nhẹ đến gần như không nghe thấy. Dây đàn run rẩy, trái tim con người cũng run rẩy theo. Nỗi bi thương, thất vọng bàng hoàng đè nén trong tim bỗng chốc bị đào lên tận gốc, bao nhiêu uất ức tuôn trào như sông dâng biển cuộn phá vỡ bờ đê.


“Dương Phượng!”, Sính Đình run rẩy gọi một tiếng, rồi nhào vào lòng Dương Phượng, khóc tức tưởi.


Cứ để cho nước mắt tuôn trào, thấm hết vào đất mẹ. Đây không phải Quy Lạc, cũng chẳng phải Đông Lâm, chốn này không có ai khiến nàng đau khổ, không có ai khiến nàng ly hồn. Làm sao có thể quên được những ngày đông tươi đẹp ấy, những đêm dài ấm áp, bóng dáng vững chãi của chàng và cả ký ức rõ ràng về mười lăm năm ở vương phủ?


Làm sao để Dương Phượng hiểu rằng, nàng đã yêu một nam nhân. Nàng yêu chàng, lại hại chàng, lừa chàng, đến cuối cùng còn cố hết sức rời khỏi chàng, nhưng cũng không thể quay lại vương phủ Kính An mà nàng ngỡ có thể ở được cả đời?


Trong ánh mắt thương xót ngày hôm nay của Dương Phượng, Sính Đình đã được khóc thật thoải mái, dốc sạch những nỗi khổ trong lòng.


Dưới gầm trời này, e là chỉ có mình Dương Phượng mới hiểu được trái tim Sính Đình.


Sính Đình chỉ khóc mà không nói, Dương Phượng cũng đã đoán được vài phần. Không liên quan đến tình, Sính Đình sẽ chẳng thương tâm đến vậy.


Ai có được bản lĩnh khiến một Sính Đình luôn kiêu ngạo phải động lòng như vậy?


“Chàng ấy tên gì?”, Dương Phượng vuốt tóc nàng.


Hai mắt Sính Đình đẫm lệ, hàm răng cắn chặt nói rõ ràng ba từ vẫn ngày đêm bóp nghẹt trái tim nàng, khiến nàng đau đớn: “Sở Bắc Tiệp”.


Trấn Bắc vương của Đông Lâm? Dương Phượng khẽ thất thần, hồi lâu mới khe khẽ thở dài, dịu dàng nói: “Khóc đi, khóc cho thoả đi”.


Nước mắt rơi xối xả như mưa, Sính Đình gục trong lòng Dương Phượng khóc đến tối tăm trời đất.


“Dương Phượng, muội bây giờ, xem như là…”, Sính Đình đau đớn chống người ngồi dậy, nói được một nửa thì dừng lại, bỗng cảm thấy cổ họng mình tanh nồng, oẹ một tiếng, nàng nôn ra toàn máu tươi.


“Sính Đình!”, Dương Phượng vội đứng bật dậy, nhìn trừng trừng phần váy đã bị nhuộm đỏ, hét lên, “Người đâu! Người đâu!”.


Sính Đình dốc hết bao muộn phiền, khóc lóc rồi đổ bệnh.


Giai nhân ngày trước vẫn nói cười bàn việc dùng binh, hoạch định chiến lược nơi màn trướng, gặp biến động bất ngờ mặt vẫn không đổi sắc mà nay lại sa sút đến nhường này.


Sính Đình bệnh cũ tái phát, bệnh đến vừa gấp vừa nặng.


May mà phủ thượng tướng quân mọi thứ đều đủ cả, nhân sâm mật gấu liên tiếp đưa lên. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của Dương Phượng, bệnh tình của Sính Đình dần dần thuyên giảm.


Nghỉ ngơi mấy ngày, Sính Đình đã có thể ngồi dậy được. Nàng đã dốc hết những ai oán, nên ngực không còn đau lên từng cơn. Bệnh tuy nặng, song cũng đỡ hơn rất nhiều, không tái phát liên tục như trước nữa.


Nàng cảm nhận được bên ngoài tấm rèm, một bóng dáng thân thuộc đang đi đi lại lại. Tiếng rèm châu bị vén kêu lên vui tai, Dương Phượng bước vào cười nói: “Khí sắc tốt lên nhiều rồi, đại phu nói hai hôm nữa có thể đi lại được. Muội đã doạ ta một trận đấy”.


“Ngồi đây đi”, Sính Đình vỗ vào bên giường.


Dương Phượng ngồi xuống cạnh nàng, lấy trong người ra một cây trâm loại thượng hạng, cẩn thận cài lên mái tóc Sính Đình, rồi ngắm thật kỹ: “Đại vương ban cho Tắc Doãn, nhưng ta luôn cảm thấy mình cài không đẹp, đúng là muội cài vẫn đẹp hơn”.


Sính Đình ngắm mình trong chiếc gương đồng mà Dương Phượng đưa đến. “Cố ý mang đến tặng muội sao?”, ngừng một lát, nàng lại hỏi, “Thượng tướng quân có biết lai lịch của muội không?”.


“Chàng không hỏi.” Dương Phượng trả lời. “Chỉ cần là bằng hữu của ta, chàng sẽ dốc hết sức lực bảo vệ, chỉ là…”. Khuôn mặt đầy đặn hơn hẳn Sính Đình bỗng trở nên u ám, “Chàng sắp dẫn binh rời khỏi thành đô rồi”.


Không khí bỗng trở nên ngột ngạt, như khi mây đen kéo đến che kín bầu trời khiến lòng người hoảng hốt.


Sính Đình cầm chiếc gương đồng trong tay Dương Phượng, đặt xuống bên giường, mím môi không đáp.


Dương Phượng nói: “Hai chúng ta thân thiết từ nhỏ, luận về tài đàn, ta không kém muội, nhưng nếu luận về mưu lược, ta chẳng thể sánh bằng muội”.


Sính Đình miễn cưỡng nở nụ cười: “Tỷ vẫn kiêu ngạo, sao bỗng dưng lại khiêm tốn thế?”.


“Ta chỉ có chút thông minh vặt trong chốn khuê phòng, trong bốn bức tường, ra oai với gia nhân. Quản một cái sơn trại Đoá Đoá Nhĩ hay một phủ tướng quân còn được. Nhưng nói đến việc quân đại sự, muội mới là bậc nữ đại trượng phu.” Đôi mắt sâu đen của Dương Phượng nhìn Sính Đình, khẽ hỏi, “Tại sao Đại vương lại đột nhiên triệu gấp Tắc Doãn về, để chàng nắm hết binh quyền? Tắc Doãn không phải là người mưu cầu danh lợi, trừ khi Bắc Mạc nguy cấp, còn không chàng sẽ chẳng bao giờ bỏ mặc tất cả, phản bội lời thề với ta năm xưa để quay lại nơi này. Ta không hiểu chuyện quốc gia đại sự, Sính Đình, muội nói cho ta biết, việc này là vì sao?”, Dương Phượng gằn từng tiếng một.


Bên ngoài kia hoa thơm chim hót, trong này lại im lặng khác thường.


Sính Đình trầm lặng, cúi đầu không nói.


Ánh mắt truy hỏi của Dương Phượng như đang thiêu đốt đỉnh đầu nàng. Không biết bao lâu sau, Sính Đình mệt mỏi, ngẩng đầu lên, dựa vào chiếc gối mềm ở thành giường, cười khổ: “Sở Bắc Tiệp vì chút sơ suất nên trúng kế, bị ép để lại bảo kiếm làm tín vật, thề trong năm năm không quay lại Quy Lạc. Đông Lâm đang dốc sức mở rộng đất đai, đã có sẵn tinh binh mãnh tướng, nếu tạm thời không thể có được Quy Lạc, Đông Lâm tất sẽ quay giáo, tìm mục tiêu khác. Nói thế nghĩa là, Đông Lâm đã dụng binh ở biên giới Bắc Mạc rồi?”.


“Đúng vậy.” Dương Phượng mệt mỏi chau mày, “Những ngày này, lúc nào Tắc Doãn cũng nhắc đến cái tên Sở Bắc Tiệp, đệ nhất mãnh tướng Đông Lâm, Trấn Bắc vương… Mật thám tiền tuyến trở về nói hắn như một ma vương từ địa phủ trồi lên, không ít đại tướng Bắc Mạc đã chết trong tay hắn”.


Dương Phượng nhìn chằm chằm Sính Đình hồi lâu, rồi mới quay đi, dịu dàng nở nụ cười như hoa, thư thái nói: “Đừng nghĩ ngợi làm gì, những việc của nam nhân, chúng ta lo sao được. Thật không hiểu nổi, tại sao các bậc đại vương cứ luôn mong muốn mở rộng biên cương của mình? Hoàn thành sự nghiệp thiên thu thật sự quan trọng thế sao? Tắc Doãn sắp ra trận, mấy hôm nay ta phải ở cạnh chàng”. Dương Phượng đứng dậy, thấy Sính Đình đang cố gắng đứng dậy thì khẽ đặt bàn tay lên vai nàng, “Muội vừa khỏi bệnh, cứ nghỉ ngơi cho khoẻ. Nếu buồn quá thì bảo bọn thị nữ ra hoa viên hái hoa tươi mang vào, có việc gì thì bảo chúng tìm ta”.


Dương Phượng rời đi, tấm rèm châu bị động vào lại kêu lách cách. Sính Đình tâm phiền ý loạn, mày ngài nhíu chặt.


Đông tây nam bắc, trong bóng tối lúc nào cũng có những tấm lưới giăng sẵn, để người ta rơi vào đó.


Thật quá mệt mỏi.


Truyện đánh dấu

Nhấn để xem...

Truyện đang đọc

Nhấn để xem...
Nhấn Mở Bình Luận